Sau yêu cầu giảm lãi suất của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN), nhiều ngân hàng thương mại đã công bố các chương trình tín dụng ưu đãi. Mức giảm phổ biến được đưa ra là 1,5 - 2%/năm, cùng với đó là cam kết tiết giảm chi phí và chia sẻ lợi nhuận để hỗ trợ người vay.
Ngân hàng giảm lãi, doanh nghiệp chờ vốn rẻ
Ông Lê Ngọc Lâm, Chủ tịch HĐQT BIDV cho biết, ngân hàng sẽ triển khai ngay gói tín dụng khoảng 100.000 tỷ đồng dành cho sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Lãi suất cho vay giảm 1,5 - 2% xuống còn 6 - 7%/năm tùy kỳ hạn.
Theo ông Lâm, BIDV sẽ tiết giảm chi phí và giảm lãi suất huy động để có cơ sở hạ lãi suất cho vay. Ngân hàng dự kiến giảm khoảng 500 tỷ đồng thu nhập khi triển khai gói tín dụng này.
Trong khi đó, ông Từ Tiến Phát, Tổng Giám đốc ACB cho biết, ngân hàng áp dụng biểu lãi suất cho vay mới từ ngày 20/10, đồng thời tiếp tục chương trình cho vay doanh nghiệp với mức giảm 1,5 - 2%/năm. Riêng chương trình giảm lãi suất 1%/năm, ACB đã giải ngân khoảng 5.000 tỷ đồng. Cùng với BIDV và ACB, Agribank, Vietcombank, VietinBank, MB… cũng đồng loạt giảm lãi suất.
Đợt điều chỉnh diễn ra sau cuộc họp về điều hành chính sách tiền tệ ngày 16/10, khi Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu giảm lãi suất cho vay đối với sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Đến ngày 18/10, NHNN ban hành Văn bản số 9608/NHNN-CSTT, yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm ít nhất 0,5 %/năm lãi suất tiền gửi niêm yết kỳ hạn từ sáu tháng trở lên, đồng thời giảm lãi suất cho vay.
Một doanh nghiệp duy trì dư nợ 100 tỷ đồng, nếu được giảm lãi suất 2% trên toàn bộ khoản vay trong một năm, sẽ bớt hai tỷ đồng tiền lãi. Lợi ích càng rõ với doanh nghiệp đã có đơn hàng nhưng phải ứng vốn trước để sản xuất, trong khi tiền bán hàng chưa thu về. Áp lực trong thời gian chờ thanh toán cũng nhẹ hơn. Doanh nghiệp có thêm khả năng duy trì sản xuất, nhận hợp đồng mới và giữ việc làm cho người lao động.
Theo bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Thống kê (Bộ Tài chính), qua điều tra, lãi suất cho vay cao là một trong ba khó khăn chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ thông báo giảm lãi suất đến khoản tiền người vay thật sự tiết kiệm được vẫn còn những điều kiện cụ thể. Mỗi chương trình có nhóm khách hàng, mục đích vay và thời gian áp dụng riêng. Mức giảm “tới 2%” không có nghĩa mọi khách hàng đều được hưởng mức ưu đãi cao nhất.
Đáng chú ý, tại cuộc họp ngày 19/10, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn lưu ý, cần xem xét giảm lãi suất cho cả khoản vay hiện hữu và khoản vay mới, tập trung vào sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, phù hợp với khả năng tài chính của từng ngân hàng. Việc hỗ trợ cả khoản vay hiện hữu sẽ giúp doanh nghiệp giảm áp lực trả lãi ngay cả khi chưa cần vay thêm.
Mức hỗ trợ thực tế còn phụ thuộc thời gian áp dụng. Chẳng hạn, với dư nợ không đổi 100 tỷ đồng, giảm lãi suất 2%/năm trong ba tháng giúp doanh nghiệp tiết kiệm khoảng 500 triệu đồng. Ngân hàng cần công bố rõ thời hạn ưu đãi, kỳ điều chỉnh tiếp theo và lãi suất sau ưu đãi để doanh nghiệp chủ động cân đối tài chính.
Vốn rẻ cần đi cùng đầu ra
Thực tế, giảm được tiền lãi là hỗ trợ thiết thực, nhưng quyết định vay để mở rộng sản xuất còn phụ thuộc khả năng bán hàng. Một doanh nghiệp đã có hợp đồng, cần thêm nguyên liệu có thể sớm sử dụng khoản vay mới. Ngược lại, nếu hàng tồn kho chưa tiêu thụ được, việc vay thêm để tăng sản lượng có thể khiến áp lực trả nợ lớn hơn, dù lãi suất thấp hơn trước.
Theo báo cáo kinh tế - xã hội, GDP chín tháng năm 2026 tăng 9,01% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,8%, trong khi chỉ số tồn kho cuối tháng 9 tăng 11,9% so cùng thời điểm năm trước.
Hoạt động kinh tế tiếp tục tăng trưởng, song cơ hội kinh doanh không giống nhau ở mọi ngành, mọi doanh nghiệp. Nơi có thị trường thuận lợi cần vốn để đáp ứng đơn hàng; nơi còn khó khăn về tiêu thụ lại ưu tiên thu hồi công nợ, giảm tồn kho và giữ dòng tiền. Không phải doanh nghiệp nào được giảm lãi suất cũng lập tức vay thêm hoặc đầu tư nhà máy.
Ngay cả khi chưa mở rộng sản xuất, việc bớt tiền lãi vẫn giúp doanh nghiệp có điều kiện duy trì hoạt động. Khoản tiền giữ lại để trả lương, thanh toán công nợ hoặc trả bớt nợ gốc có thể giúp tình hình tài chính ổn định hơn. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp tính đến đầu tư khi thị trường thuận lợi, thay vì phải liên tục xoay xở với nghĩa vụ trả nợ.
Theo ông Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, ngân hàng và doanh nghiệp có quan hệ gắn bó, hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó cũng là tạo nền tảng cho hoạt động ngân hàng. Khi doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, khả năng trả nợ được cải thiện, ngân hàng cũng giảm bớt rủi ro.
Dù vậy, giảm lãi vay đi cùng một yêu cầu khác là bảo đảm nguồn vốn cho vay. Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank, nêu khó khăn trong việc giảm lãi suất đầu vào nhưng vẫn bảo đảm lợi ích của người gửi tiền. Đây là vấn đề các ngân hàng phải cân đối để vừa hỗ trợ khách hàng vay, vừa duy trì khả năng huy động vốn.
Chi phí huy động cũng không thể giảm ngay trên toàn bộ nguồn vốn khi ngân hàng điều chỉnh biểu lãi suất mới. Các khoản tiền gửi trước đó vẫn được trả lãi theo thỏa thuận. Để hạ lãi vay trong thời gian này, ngân hàng phải cắt giảm chi phí hoạt động và dành một phần thu nhập hỗ trợ khách hàng.
Tại cuộc họp ngày 19/10, các ngân hàng thống nhất hỗ trợ khách hàng nhưng không hạ chuẩn điều kiện cấp tín dụng. Với doanh nghiệp cần vốn, yêu cầu về hồ sơ, phương án kinh doanh và nguồn trả nợ vẫn phải được đáp ứng.
Điều có thể cải thiện là quy trình xét duyệt, thời gian xử lý và cách hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ. Lãi suất thấp sẽ khó phát huy tác dụng nếu doanh nghiệp không tiếp cận được khoản vay lúc cần. Ngược lại, doanh nghiệp cũng cần minh bạch tài chính để ngân hàng có cơ sở thẩm định và quyết định cho vay.
Ngoài tín dụng, việc tháo gỡ thủ tục dự án, đẩy nhanh thanh toán và triển khai các công trình đầu tư công có thể tạo thêm đơn hàng cho doanh nghiệp. Khi có việc làm, có nguồn thu và biết tương đối rõ thời điểm nhận tiền, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong tính toán vay vốn, còn ngân hàng có thêm căn cứ đánh giá khả năng trả nợ.
Về lâu dài, ông Đào Minh Tú cho rằng, cần phối hợp các chính sách để đưa mặt bằng lãi suất về mức phù hợp khả năng sinh lời của doanh nghiệp; đồng thời phát triển thị trường vốn nhằm giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng.