Bà Nguyễn Thị Thu Hoan, Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia:
Nỗ lực chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về hiện vật
Thời gian để thực hiện số hóa toàn bộ số lượng hơn 200 nghìn tài liệu, hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia phải từ khoảng 5 - 10 năm, tùy vào mức độ và các điều kiện đáp ứng. Trong điều kiện hiện có, Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã số hóa một phần số lượng hiện vật gốc, phục vụ các chuyên đề giới thiệu bảo tàng ảo 3D và một số tài liệu trong tình trạng bảo quản cấp thiết.
Đến nay, Bảo tàng đã hoàn thiện Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu giai đoạn 2025-2030 trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Định hướng chuyển đổi số của Bảo tàng tập trung vào ba mục tiêu chính. Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về hiện vật, tiến hành tư liệu hóa, số hóa hệ thống tài liệu, hiện vật, xây dựng nền tảng dữ liệu chuẩn hóa, làm cơ sở cho các hoạt động trưng bày, nghiên cứu và giáo dục. Thứ hai, ứng dụng công nghệ số trong trưng bày, đặc biệt là các trưng bày chuyên đề; phát triển hệ thống tham quan ảo và sản phẩm trải nghiệm số, như nâng cấp các tour tham quan ảo, trưng bày 3D, ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR)... để nâng cao trải nghiệm cho khách tham quan. Thứ ba, xây dựng tài liệu giáo dục số; đẩy mạnh giáo dục di sản qua nền tảng số; nghiên cứu, hệ thống hóa tư liệu, số hóa để tạo “ngân hàng dữ liệu” phục vụ giáo dục; xây dựng các chương trình giáo dục di sản trực tuyến, bài giảng tương tác, hoạt động trải nghiệm có ứng dụng công nghệ số phù hợp với học sinh, sinh viên và giáo viên.
Nếu có dịp tham quan trưng bày ảo 3D về bảo vật quốc gia của Bảo tàng, công chúng sẽ thấy hiện vật được giới thiệu không chỉ qua hình ảnh ở nhiều góc độ khác nhau mà còn có nhiều trường thông tin kèm theo. Đối với nguồn thông tin về hiện vật không phải do Bảo tàng thực hiện, chúng tôi vẫn tích hợp nhằm cung cấp cho khách tham quan thêm những kênh/nguồn tham khảo, tạo thuận lợi nếu họ có nhu cầu tra cứu, tìm hiểu, nghiên cứu sâu. Đồng thời, việc này góp phần hình thành mạng lưới cung cấp thông tin đầy đủ, đa chiều hơn, giúp công chúng hiểu sâu sắc hơn về tài liệu, hiện vật Bảo tàng đang giới thiệu.
Ông Trịnh Công Quang, Nhà sáng lập, Giám đốc Công ty cổ phần Giải pháp chuyển đổi số VR360:
Thay đổi cách tiếp cận di sản của thế hệ trẻ
Các chủ trương, chương trình, đề án số hóa của Đảng, Nhà nước và Chính phủ không chỉ mở đường về mặt chính sách mà còn tạo động lực để nhiều địa phương, đơn vị quản lý di sản chủ động tìm đến các giải pháp công nghệ. Chúng tôi cho rằng đây là thời điểm thuận lợi để các doanh nghiệp công nghệ như VR360 đồng hành cùng công cuộc số hóa di sản văn hóa quốc gia.
Tuy nhiên, không phải là không có những khó khăn. Nhìn từ góc độ một đơn vị công nghệ tham gia lĩnh vực đặc thù như số hóa di sản, chúng tôi cho rằng khó khăn lớn nhất không nằm ở công nghệ, mà nằm ở sự đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và yêu cầu số hóa.
Với một số di tích, hiện vật lịch sử cấp quốc gia, công tác số hóa phải được thực hiện hết sức thận trọng, cần có sự tham vấn chặt chẽ với các chuyên gia bảo tồn, tránh sai lệch thông tin hay làm mất đi tính nguyên bản của di sản.
Là một đơn vị bên ngoài cơ quan quản lý, vận hành di sản, trước khi tiếp cận hiện trường để tiến hành số hóa, chúng tôi thường phải qua nhiều bước làm việc với các cấp quản lý khác nhau ở địa phương và ban quản lý di tích. Vì vậy, chúng tôi mong muốn có hướng dẫn cụ thể và thống nhất để giúp quá trình phối hợp giữa các đơn vị/công ty công nghệ, cơ quan quản lý di sản và chủ đầu tư thuận lợi hơn.
Tính tới thời điểm hiện tại và riêng trong lĩnh vực văn hóa, VR360 đã triển khai số hóa cho hơn 300 dự án khác nhau trên cả nước, bao gồm từ di tích lịch sử, bảo tàng, khu lưu niệm đến các hiện vật riêng lẻ.
Kể từ khi bắt đầu triển khai, chúng tôi nhận thấy một sự thay đổi rất rõ trong cách công chúng, đặc biệt là giới trẻ và học sinh, sinh viên, tiếp cận với di sản văn hóa. Một trong những dự án tiêu biểu mà chúng tôi tự hào đồng hành là số hóa hơn 300 địa chỉ đỏ tại Thủ đô Hà Nội. Sau khi ra mắt vào năm 2024, sản phẩm vẫn đang được Thành Đoàn Hà Nội sử dụng làm tư liệu giúp các đoàn viên thanh niên hiểu rõ về những giá trị lịch sử của từng địa chỉ đỏ. Ngoài ra, dự án cũng được xem như một cổng học liệu mở, phục vụ việc giảng dạy lịch sử của các trường học trên cả nước. Theo ghi nhận từ VR360, liên kết trực tiếp của dự án thu hút gần 100 nghìn lượt truy cập, tính từ thời điểm sản phẩm ra mắt đến cuối năm 2025. Chúng tôi coi đây là minh chứng cho thấy nhu cầu tiếp cận di sản qua không gian số của công chúng đang tăng lên rất nhanh chóng.
Trong hợp tác với các tổ chức, cơ quan liên quan, VR360 đặc biệt coi trọng an ninh dữ liệu vì dữ liệu số hóa di sản, nhất là dữ liệu 3D, hình ảnh độ phân giải cao của hiện vật có giá trị rất lớn và cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Các dự án của chúng tôi, trước khi chuyển giao cho khách hàng, chủ đầu tư, đều có cơ chế bảo mật, mã hóa dữ liệu, phân quyền truy cập theo từng vai trò cũng như có chính sách, quy trình sao lưu rõ ràng.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quách Thị Ngọc An, Khoa Thiết kế truyền thông thị giác, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương:
Số hóa để phục vụ và bảo vệ di sản gốc
Ở góc độ của một nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ, tôi nghĩ rằng, việc số hóa di sản văn hóa nói chung là tốt, để lại dữ liệu lâu dài cho thế hệ sau. Thông thường, để tiếp cận di tích, hiện vật, bảo vật quốc gia, nhà nghiên cứu phải đến tận nơi, xin phép qua nhiều thủ tục, và đôi khi không thể quan sát cận cảnh. Bởi vậy, tư liệu số hóa di sản, với các hình ảnh 3D, 2D độ phân giải cao, giúp có thể phóng to từng nét đục, nét chạm, lật trở các góc cạnh để soi rõ từng chi tiết, các góc khuất của hiện vật mà không bị giới hạn bởi ngoại cảnh hoặc lý do an ninh, an toàn.
Tuy nhiên, việc chăm sóc, bảo vệ di sản thật ngoài đời vẫn vô cùng cần thiết, để con người cảm nhận được sâu sắc và rung động nhất vẻ đẹp, giá trị nhiều mặt của di tích/di sản/hiện vật. Một hiện vật hay di tích cổ có giá trị là bởi nó hàm chứa yếu tố thời gian. Cảm giác đứng trước một mái đình hàng trăm năm tuổi, chạm tay vào thớ gỗ sần sùi, ngửi mùi rêu ẩm sau mưa, hay nhìn bóng nắng đổ dài trên một pho tượng cổ... là những trải nghiệm mang tính thức tỉnh các giác quan. Bảo vệ di sản vật thể ngoài đời thực chính là bảo vệ gốc rễ để dòng chảy văn hóa không bị đứt gãy. Công nghệ, suy cho cùng, chỉ là phương tiện chứ không bao giờ có thể là mục đích cuối cùng hay sự thay thế hoàn toàn cho thực tại.
Tựu chung, số hóa để phục vụ công chúng và bảo vệ di sản gốc. Nếu có biến cố xảy ra, dữ liệu số hóa sẽ cung cấp thông tin về hiện vật thật một cách chính xác nhất, tránh nguy cơ làm sai lệch hay làm mới di sản một cách vô tri. Số hóa góp phần giảm áp lực phục vụ con người cho di sản thật. Một di tích nếu thường xuyên đón quá nhiều khách tham quan thì sẽ đối mặt với nguy cơ xuống cấp nhanh chóng; ô nhiễm không khí, độ ẩm thay đổi từ hơi người làm hỏng hiện vật... Lúc này, trải nghiệm số hóa như phòng trưng bày ảo, kính AR tại chỗ, giúp người xem vẫn thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu mà không trực tiếp xâm hại đến hiện vật gốc.
Mặt khác, qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy, các em sinh viên rất nhạy bén với công nghệ khi lên ý tưởng sáng tạo theo các chuyên ngành minh họa, hoạt hình và ngành công nghiệp game. Tuy nhiên, hiện nay, khi làm đồ án tốt nghiệp hoặc các dự án phim hoạt hình, làm game lấy bối cảnh Việt Nam, sinh viên mất quá nhiều thời gian tìm kiếm tư liệu và đôi khi, không tránh khỏi sự nhầm lẫn, sai sót về lịch sử, đặc điểm nhận diện.
Nếu có một kho dữ liệu lớn chính thống và mở về di sản văn hóa Việt Nam, bao gồm hình ảnh và tài liệu liên quan, thì đó sẽ là một cú huých lịch sử cho sáng tạo và thúc đẩy phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa của thế hệ trẻ hôm nay cũng như trong tương lai. Khi có sẵn dữ liệu với độ phân giải cao, sinh viên làm minh họa truyện, hoạt hình 3D hay làm game có thể bóc tách, trích đoạn hoa văn từ các tệp thông tin về bảo vật quốc gia, hiện vật giàu giá trị thẩm mỹ qua các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn... để tham khảo, mô phỏng, làm nguồn cảm hứng trong thiết kế trang phục nhân vật, vũ khí, hay xây dựng bối cảnh. Nói cách khác, các em có cơ hội sáng tạo dựa trên nền tảng tri thức vững chắc, tạo nên sản phẩm vừa mang tính hiện đại vừa có chiều sâu văn hóa dân tộc đậm nét.