Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương
Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Mở rộng tầm nhìn về di sản

Trong bảo tồn và nghiên cứu, số hóa và công nghệ hình ảnh 3D giúp lưu trữ, tái hiện hình ảnh, chế tác phiên bản với mức chính xác cao nhất. Các nhà khảo cổ đã có thể sử dụng công nghệ hình ảnh 3D để lưu trữ và tái hiện hình ảnh các hiện vật trong không gian ảo. Gần đây, tại công trường khai quật di chỉ Vườn Chuối (xã Hoài Đức, Hà Nội), sau khi phát hiện số lượng lớn di cốt tại một số hố khai quật, các nhà khoa học đã ứng dụng công nghệ hình ảnh 3D để lưu trữ hình ảnh di vật trong không gian của hố khai quật, thu thập tối đa những dữ liệu chân thực nhất tại hố khai quật ở định dạng số hóa trước khi di dời hiện vật và đóng hiện trường. Các tư liệu số hóa này được sử dụng trong nghiên cứu đa dạng và lâu dài cho giới khảo cổ, nhất là những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước chưa hoặc không thể tiếp cận được di chỉ/di sản.

Các ứng dụng công nghệ cao trong phát huy giá trị di sản tạo hứng thú cho giới trẻ tìm hiểu văn hóa. Thạc sĩ Đặng Anh Vân, Trưởng phòng Giáo dục-Tuyên truyền, Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu-Quốc Tử Giám, cho biết: “Kể từ năm 2024, các em nhỏ rất hứng thú khám phá tri thức trong nhiều chương trình ngoại khóa bổ ích, nhờ hai phần mềm Khơi nguồn đạo học và Đi tìm linh vật dành cho học sinh các trường phổ thông, được tích hợp trong chương trình giáo dục di sản của Trung tâm”.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia là đơn vị đầu tiên thử nghiệm số hóa 3D với nhiều hiện vật trên các loại hình, chất liệu khác nhau, ứng dụng công nghệ tương tác thực tại ảo trong giới thiệu trưng bày và nghiên cứu. Dự án Định danh số và triển lãm các cổ vật triều Nguyễn tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế sử dụng công nghệ blockchain và NFC để quản lý và định danh các cổ vật. Cùng với đó là mô hình bảo tàng trực tuyến, tại địa chỉ museehue.vn với hàng chục module song ngữ Việt và Anh, giới thiệu về những giá trị đặc sắc của cung đình Huế. Phiên bản bảo tàng số này do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Phygital Labs hợp tác phát triển, với kỳ vọng lan tỏa văn hóa Việt ra toàn cầu.

Nhiều bảo tàng khác, kể cả một số bảo tàng ngoài công lập cũng đạt được những thành công đáng khích lệ. Tuy vậy, vẫn còn nhiều việc cần làm trên đường tiến đến phổ quát số hóa và xây dựng hệ sinh thái số cho văn hóa Việt Nam.

4a.jpg
Ứng dụng công nghệ số trong trưng bày chuyên đề Vũ khúc Thiền môn - Nghệ thuật Phật giáo thời Lý: Di sản và Công nghệ, tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia, tháng 5 - 7/2025. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Kỳ vọng lớn và những nguy cơ tiềm ẩn

Thực tế, di sản văn hóa phi vật thể, như các tín ngưỡng, lễ hội, nghề thủ công lâu đời... hiện chưa được số hóa một cách đồng bộ dưới sự điều hành của một “nhạc trưởng”, được quản lý, sử dụng ở tầm mức quốc gia. Phần lớn dữ liệu mới chỉ được sưu tầm và quản lý ở địa phương hoặc tại các cơ quan nghiên cứu. Một trong những khó khăn khi số hóa các di sản phi vật thể lại xuất phát từ đặc thù của chính di sản đó. Đơn cử: Do tập tục kiêng kỵ nghiêm ngặt, cần được tôn trọng để bảo vệ tính thiêng của di sản, Ban quản lý một số di tích đã giới hạn việc ghi âm, ghi hình, thậm chí cấm cả việc người lạ xuất hiện trong không gian di tích. Lễ mật “linh tinh tình phộc” diễn ra trong bóng tối ở Lễ hội Trò Trám, tại miếu Trò (nay thuộc xã Phùng Nguyên, tỉnh Phú Thọ) hoặc nghi thức rước thánh vào hậu cung ở Lễ hội 5 làng Mọc xưa (Hà Nội) là những dẫn chứng.

Qua thực tiễn số hóa và liên thông chia sẻ, sử dụng các thông tin thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại do UNESCO ghi danh năm 2016, Nghệ nhân Ưu tú, thanh đồng Nguyễn Tất Kim Hùng, thủ nhang tại đền Nguyên Khiết Linh Từ (số 102, phố Hàng Bạc, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội) vẫn băn khoăn: “Chúng tôi cũng đã có cố gắng ghi lại những hình ảnh thực hành tín ngưỡng tại không gian thiêng của bản điện nhưng mới chỉ ở mức chia sẻ với nhau trong cộng đồng những người kính ngưỡng và muốn hoằng dương Đạo Mẫu, chứ chưa lan tỏa được rộng rãi những giá trị văn hóa của di sản”. Ông Hùng bày tỏ mong muốn: Những chuyên gia, các nhà nghiên cứu cùng sát cánh với người thực hành di sản này để lưu trữ tư liệu thực hành di sản, góp phần bảo tồn, giới thiệu, tăng thêm tự hào về nền văn hóa đất nước nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt nói riêng một cách chân xác và lâu dài.

Với di sản vật thể, điều khó khăn là khối lượng di vật, di tích rất lớn, tồn tại trong tình trạng đa dạng và điều kiện hiện trường phức tạp. Nếu không có thiết bị thích hợp và khung kỹ thuật chuẩn, dữ liệu sẽ khó liên thông.

Qua thực tế làm công việc “bếp núc” cho nhiều dự án số hóa bảo tàng, di tích, kiến trúc sư Đinh Việt Phương, Giám đốc Công ty 3DART nhấn mạnh: “Cần lấp các “khoảng trống” kỹ thuật khi thực hiện số hóa di sản”.

Theo kiến trúc sư Đinh Việt Phương, “khoảng trống” lớn nhất hiện nay là tiêu chí nghiệm thu dữ liệu số chưa đủ sâu. Nhiều dự án vẫn được nghiệm thu theo kiểu “đếm đầu việc”, các chỉ số chưa đủ để đánh giá chất lượng thực tế. “Cần nghiệm thu bằng các tiêu chí kỹ thuật cụ thể, như mật độ điểm, độ phủ bề mặt, sai số ghép nối, sai khác màu, vùng thiếu dữ liệu, vùng nội suy và khả năng tái lập quy trình. Cũng cần có hướng dẫn rõ: Từng loại chất liệu và trạng thái bề mặt nên được số hóa bằng phương pháp nào; trường hợp nào thì dùng công cụ và phương pháp nào hay phải kết hợp đa phương pháp...”, ông Phương chia sẻ.

Một vấn đề rất lớn tiếp theo là, nếu không đánh dấu, phân biệt rõ “dữ liệu “quét” trực tiếp” và “dữ liệu phục dựng” thì sẽ rất dễ dẫn tới hệ quả “bản di sản số sẽ “trộn” giữa sự thật và suy đoán, không thể dùng cho nghiên cứu lâu dài”, ông Phương cho biết. Về tổng thể, từ thực tế đang còn manh mún hiện nay, theo ông Phương, dữ liệu số hóa di sản không thể chỉ lưu trong ổ cứng hoặc một thư mục dự án. Cần có mã định danh, kiểm tra checksum, phân quyền truy cập, sao lưu, định dạng mở và kế hoạch di trú dữ liệu theo thời gian.

Để thực hiện hiệu quả chương trình chuyển đổi số tư liệu di sản văn hóa, góp phần tạo dựng nền tảng dữ liệu văn hóa Việt Nam, hướng đi cần thiết là phải lấy chất lượng sản phẩm làm trọng tâm, kiểm soát sai số minh bạch và sử dụng nhân lực chất lượng cao. Chỉ khi đó, dữ liệu di sản số mới trở thành tài sản văn hóa, không chỉ phục vụ các yêu cầu trước mắt mà còn bảo tồn ký ức lâu dài. Công nghệ sẽ phát huy hiệu quả khi gắn với tư duy bảo tồn bền vững, đầu tư thích đáng hạ tầng kỹ thuật cũng như phát triển nguồn nhân lực có trình độ chuyên sâu.

Đối với di sản phi vật thể đang sống trong cộng đồng, quá trình số hóa phải bảo đảm ghi được lời kể, làm rõ vai trò chủ thể, không gian và quy trình thực hành, ý nghĩa biểu tượng và điều kiện truyền dạy. Bởi, nếu tách di sản khỏi cộng đồng, bản số hóa sẽ mất đi hồn cốt.

Người làm công việc số hóa di sản đang đứng giữa giao điểm của công nghệ cao, mỹ thuật, kiến trúc, bảo tồn, lịch sử và trách nhiệm văn hóa. Thuận lợi lớn nhất là công nghệ đang phát triển rất nhanh và Việt Nam đã có điều kiện tiếp cận nhiều công nghệ, thiết bị hiện đại. Tuy nhiên, thiết bị phải đi kèm hiểu biết về bảo tồn và điều quan trọng không phải là “có máy gì”, mà là “đối tượng này cần được số hóa bởi mục đích gì, bằng phương pháp nào, mức độ chính xác ra sao”. Một thao tác kỹ thuật sai có thể làm hư hại hiện vật, một dữ liệu xử lý sai có thể làm sai lệch nhận thức lịch sử. Bởi vậy, cần có chương trình đào tạo cho đội ngũ nhân lực thực hiện công việc số hóa di sản, trong đó kết hợp giữa bảo tàng học, kiến trúc, khảo cổ học, mỹ thuật học, công nghệ 3D, quản lý dữ liệu số và quản trị di sản.

Có thể bạn quan tâm