Tính đến nay, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã số hóa được khoảng 125 nghìn trang tài liệu, bên cạnh công tác định danh số gần 8.000 cây/thảm xanh. Trung tâm hiện đang tiến hành dự án số hóa 896 cổ vật tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế. Trung tâm còn ứng dụng hệ thống thông tin mô hình trong số hóa các công trình di sản, kiến trúc lịch sử (Historic/Heritage Building Information Modeling-HBIM) tại một số công trình, di tích quan trọng, như Điện Kiến Trung, Lăng vua Gia Long.
Trước đó, Trung tâm đã tiến hành số hóa toàn bộ Điện Thái Hòa, với hơn 5.240 thành phần kiến trúc, chụp hơn 44.500 bức ảnh có chất lượng cao. Theo đại diện của Trung tâm, điều kiện thời tiết Huế có mùa mưa kéo dài kèm độ ẩm cao, ảnh hưởng không nhỏ đến độ chính xác của các thiết bị quang học nhạy cảm như máy quét laser hoặc máy ảnh góc rộng (hiện tượng mờ thấu kính, nhiễu ánh sáng do tán xạ bụi nước). Tuy nhiên, vượt qua mọi khó khăn và thách thức, Trung tâm đã hoàn thiện công trình số hóa trong thời gian 18 tháng, tạo ra một bản sao di tích hoàn hảo trong không gian số, vừa phục vụ công tác bảo tồn nguyên trạng vừa mở ra cơ hội phát triển kinh tế số thông qua du lịch thông minh.
Huế là địa phương có nhiều di sản thế giới nhất cả nước, bao gồm tám di sản vật thể, phi vật thể và tư liệu. Trung tâm kết hợp với các đơn vị công nghệ để cung cấp ứng dụng giới thiệu các điểm tham quan do Trung tâm quản lý phù hợp cho cả hai hệ điều hành thiết bị điện tử thông minh iOS và Android. Bên cạnh đó, dữ liệu số hóa là nền tảng để Trung tâm mở dịch vụ tham quan thực tế ảo, kết hợp các trò chơi trải nghiệm, thu hút đông đảo du khách.
Tương tự, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam hiện quản lý chín bảo vật quốc gia, bên cạnh gần 20 nghìn hiện vật mỹ thuật cổ và các tác phẩm mỹ thuật hiện đại, đương đại. Kể từ năm 2017, đơn vị này đã chủ động tiến hành công tác số hóa, để khai thác và phát huy giá trị của bộ sưu tập mỹ thuật quý giá trên nhiều phương diện. Bảo tàng hợp tác với một công ty công nghệ để cung cấp dịch iMuseum VFA với hệ thống thuyết minh sử dụng chín ngôn ngữ, đa phương tiện, nhiều tính năng thông minh, tích hợp công nghệ định vị và hướng dẫn tham quan trên thiết bị di động. Dịch vụ này chú trọng giới thiệu khoảng 100 tác phẩm đặc sắc của Bảo tàng, bao gồm chín bảo vật quốc gia. Đến nay, khoảng 8 - 10% tổng số khách tham quan sử dụng iMuseum VFA, cao gấp nhiều lần lượng khách sử dụng dịch vụ thuyết minh trực tiếp. Mô hình hợp tác khai thác sản phẩm cũng tạo thêm nguồn thu cho Bảo tàng, góp phần duy trì và phát triển hệ thống.
Theo ông Nguyễn Anh Minh, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, việc số hóa 2D và 3D chất lượng cao cho một số bảo vật của Bảo tàng mở ra cơ hội thiết kế các phiên bản để làm sản phẩm lưu niệm với nhiều mẫu mã, kích thước khác nhau. Công nghệ in 3D hiện nay giúp tạo ra các phiên bản điêu khắc chuẩn mực về màu sắc cũng như tỷ lệ khuôn hình. Nhờ đó, một bức tượng cổ có thể được hiện diện ở nhiều phiên bản kích thước khác nhau, với các mức giá khác nhau, phục vụ đa dạng nhu cầu và khả năng chi trả của khách hàng. Mới đây, nhân Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Bảo tàng chính thức đi vào hoạt động, Bảo tàng đã chọn bức tranh Phong cảnh của Nguyễn Gia Trí (một mặt của bức Bình phong, sáng tác năm 1939, thuộc danh mục Bảo vật quốc gia tại Bảo tàng) để in lên tấm khăn lụa làm quà tặng khách tham dự. Đây được xem như một thể nghiệm tiếp theo của Bảo tàng trong việc khai thác và nhân lên giá trị của các bảo vật nói riêng, bộ sưu tập đồ sộ của Bảo tàng nói chung.
Các phiên bản số của hiện vật, bao gồm hình ảnh cùng hệ thống thông tin tư liệu được chuẩn hóa là nguồn dữ liệu để bảo tàng phối hợp thực hiện các chương trình, hoạt động truyền thông, quảng bá giá trị đặc sắc của Bảo tàng trên nhiều nền tảng, góp phần thay đổi hình ảnh của Bảo tàng, đưa một bảo tàng chuyên ngành đến gần hơn với đại chúng. Trong khoảng 5 năm gần đây, lượng khách tham quan đã tăng hơn 300%, trong đó khách trong nước hiện chiếm khoảng 70% tổng số khách.
Được biết, Cục Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đang triển khai kế hoạch xây dựng tiêu chí và quy trình số hóa 2D và 3D di sản văn hóa, trong đó có các phân nhánh đặc thù về lĩnh vực, phạm vi, chuyên ngành, cũng như có sự phân loại về giá trị của di sản. Đây là tiền đề để xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ số hóa di sản văn hóa để phục vụ công tác quản lý nhà nước cũng như sử dụng tại các cơ sở lưu giữ, sở hữu, vận hành di sản.