Vật nữ Việt Nam

Vượt khó đến bao giờ ?

Qua 15 năm gây dựng, vật nữ đã trở thành một “mũi nhọn” hàng đầu của thể thao Việt Nam, với thành tựu mới nhất là việc giành hai suất chính thức tham dự Thế vận hội (Olympic) 2016. Thế nhưng, chặng đường phát triển rực rỡ ấy lại không song hành với những thay đổi tích cực trên thượng tầng.

Cần phải có những thay đổi mạnh mẽ nhằm tạo nên sự bền vững cho tiềm năng phát triển của vật nữ Việt Nam.
Cần phải có những thay đổi mạnh mẽ nhằm tạo nên sự bền vững cho tiềm năng phát triển của vật nữ Việt Nam.

1 Cựu tuyển thủ quốc gia Nguyễn Thị Hằng - một trong những nữ đô vật lứa đầu, hiện đang là giáo viên thể chất tại Thái Nguyên - đã “mừng rơi nước mắt” khi nghe tin Nguyễn Thị Lụa (hạng 53 kg) rồi Vũ Thị Hằng (hạng 48 kg) liên tiếp đánh bại các đối thủ sừng sỏ để đoạt suất tham dự Olympic. Thời của chị, khi ngành thể thao quyết định thí điểm từ năm 2001, cả nước chỉ có chưa nổi chục gương mặt, đều đến với vật nữ chỉ để “thử xem thế nào”, hay đơn giản vì bị loại từ cuộc ứng tuyển vào các môn “thời thượng” như u-su (wushu), thái cực đạo (taekwondo)..., rồi “đam mê và gắn bó lúc nào chẳng hay”.

Để có thể theo nghiệp vật, thế hệ của Hằng đã phải vượt lên biết bao rào cản, mà trước hết là từ chính gia đình mình. Bố mẹ chị kiên quyết ngăn cản. Người nhà, rồi cả hàng xóm cũng sang tận nơi để khuyên bảo. Phải rất lâu sau đó, bố mẹ chị mới nhân nhượng, vì thấy con “quyết tâm và nỗ lực quá”. Đi đâu chị cũng phải “giấu nghề” vì mặc cảm, khi chưa mấy ai xem vật nữ là một môn thể thao “bình thường”.

Thế nhưng, chính những tuyển thủ “lạ” lầm lụi tập luyện trên thảm đấu cũ ở một góc nhà tập ấy đã sớm tạo nên đột phá bằng những chiến tích quốc tế liên tiếp. Ngay lần đầu tiên chính thức xuất hiện, tại SEA Games 2003 trên sân nhà, Nguyễn Thị Hằng cùng các đồng đội đã giành cả năm HCV trong năm nội dung được đưa vào chương trình thi đấu. Một năm sau, chị “làm nên lịch sử” khi mang về tấm HCB giải Trẻ thế giới, thành quả mà không ai dám nghĩ tới. Thêm một năm nữa, đến lượt Nghiêm Thị Giang ghi danh tại đấu trường châu lục với tấm HCĐ. Từ đó, vật nữ được coi là một “mỏ vàng” mới của thể thao Việt Nam, và gần như không có đối thủ tại sân chơi SEA Games.

2 Sinh năm 1990, Nguyễn Thị Lụa là đại diện tiêu biểu của một lứa đô vật nữ đã được thừa hưởng nền tảng rất tốt từ các “đàn chị” ấy. Vật nữ đã có một vị trí ổn định trong hệ thống thể thao thành tích cao, cũng như nhận được sự ủng hộ của xã hội thay vì “gian khổ tứ bề” như trước. Họ đã biết đến những chuyến tập huấn nước ngoài, thường xuyên được tham dự các giải quốc tế. Chế độ dinh dưỡng, thuốc men cũng tốt hơn. Nhờ thế, họ đã thật sự chạm đến tầm cao của nhóm hàng đầu châu lục, bước đầu tiếp cận với thế giới, mà tấm HCB ASIAD 2010 cùng một suất chính thức dự Olympic 2012 của Lụa là minh chứng đầy thuyết phục. Dù mới bắt đầu, song năm 2016 cũng đã có thể coi là một năm “đại thắng” của các đô vật nữ, với một HCV giải Trẻ châu Á, một HCB Giải vô địch châu Á, và mới nhất là hai suất chính thức dự Olympic.

Đặt trong tương quan chung của thể thao Việt Nam, vật nữ đã thật sự trở thành “mũi nhọn” hàng đầu. Những gì đã đạt được không chỉ chứng tỏ tiềm năng đặc biệt của môn này, mà còn khẳng định ngành thể thao đã đúng với cách làm “đón đầu” ở một số môn - nội dung Olympic, trong bối cảnh nhiều môn đang bị tụt lại so với mặt bằng thế giới. Thậm chí, vật nữ đã hình thành được thế mạnh sở trường ở các hạng cân nhẹ (48 kg, 51 kg và 53 kg), mà như lời của chuyên gia Lê Ngọc Minh - cựu Trưởng bộ môn từng có dấu ấn lớn trong thời kỳ đầu - thì “hội đủ các yếu tố cần thiết để có thể vươn lên tranh chấp sòng phẳng HCV ASIAD và huy chương Olympic”.

3 Trong Chiến lược phát triển thể thao Việt Nam năm 2010, vật nữ được xác định là một trong 10 môn trọng điểm nhóm 1. Tuy nhiên, qua 5 năm tổ chức thực hiện, nếu như ở điền kinh, bơi, bắn súng, cử tạ, thể dục dụng cụ… hay kể cả boxing nữ đã có sự thay đổi rõ rệt về cách thức tổ chức cùng nguồn kinh phí đầu tư, thì vật nữ vẫn gần như không có gì khác. Liên đoàn Vật Việt Nam - tổ chức xã hội nghề nghiệp được kỳ vọng sẽ giúp cho môn này thúc đẩy phong trào, vận động tài trợ, hợp tác quốc tế… - vẫn chưa được thành lập. Mảng đào tạo trẻ tiếp tục “khoán trắng” cho các địa phương.

Điều duy nhất mà vật nữ được ưu tiên chỉ là khoản kinh phí tập huấn thi đấu: Từ khoảng 300 triệu đồng mỗi năm giờ được tăng lên 500 triệu đồng. Số tiền ấy thật ra chỉ đáp ứng mức khiêm tốn nhất có thể cho một vài trụ cột ở đội tuyển. Với hai suất Olympic chính thức, 500 triệu đồng có lẽ là mức đầu tư rẻ nhất (và cũng “khốn khổ” nhất) thế giới. Ngoài sự thiếu quan tâm sát sao của lãnh đạo ngành, câu chuyện này còn thể hiện sự thụ động và yếu kém trong vai trò tham mưu, tư vấn của Bộ môn vật.

Cứ chịu khổ, cứ vượt khó kiên cường, phải chăng, các nữ đô vật dường như lại trở thành nguyên nhân tồn tại cho một thứ tâm lý ỷ lại, để tất cả cứ mãi không theo kịp tiềm năng và đà phát triển của “mũi nhọn” này?