Từ Lời thề độc lập năm 1945 đến Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” năm 1966

Chiều 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân trịnh trọng đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Ngày 2/9 lịch sử trên Quảng trường Ba Đình. Ảnh tư liệu
Ngày 2/9 lịch sử trên Quảng trường Ba Đình. Ảnh tư liệu

Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc

Trước hết, Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định Tự do độc lập là quyền thiêng liêng của mỗi dân tộc. Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền con người bằng việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và trích Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Điều vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là ở chỗ, khi trích dẫn hai bản Tuyên ngôn này, Người đã khai thác, làm rõ mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau giữa quyền dân tộc và quyền con người, đó là: Độc lập dân tộc là điều kiện đầu tiên để bảo đảm thực hiện quyền con người và ngược lại, thực hiện thành công quyền con người sẽ phát huy những giá trị cao đẹp và làm cho độc lập dân tộc thật sự có ý nghĩa. Người đưa ra kết luận khẳng định về quyền độc lập của mọi dân tộc: “Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Tuyên ngôn Ðộc lập và Quốc khánh ngày mùng 2 tháng 9 là thành tựu trực tiếp của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, một sự kiện nổi bật có ý nghĩa quyết định nhất trong các sự kiện lịch sử của Việt Nam trong thế kỷ 20.

Với nội dung sâu sắc, tầm nhìn rộng mở về thời đại cùng những dự báo thiên tài, bản Tuyên ngôn Ðộc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo thể hiện tầm cao trí tuệ, đồng thời cho thấy một lập trường kiên định về độc lập tự do của dân tộc, tính chiến đấu rất mạnh mẽ với lập luận sắc sảo, chặt chẽ, bằng lời văn súc tích, chắt lọc.

Tuyên ngôn Độc lập đã đoạn tuyệt vĩnh viễn ách thống trị của thực dân Pháp và phát-xít Nhật trong 87 năm, tuyên bố xóa bỏ chế độ phong kiến mấy nghìn năm và mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: Kỷ nguyên độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội.

Kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Đây là lời thề thiêng liêng, thể hiện sâu sắc khát vọng độc lập, tự do của nhân dân ta, biểu thị quyết tâm và ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam. Lời thề của Chủ tịch Chính phủ và lời hô vang hưởng ứng “Xin thề” của toàn thể nhân dân ở Quảng trường Ba Đình trong chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, đã tạo thành sức mạnh vật chất to lớn, trở nên lời hứa quyết tâm mở đầu cho những lời thề thiêng liêng giữ nước sau này, đưa đất nước ta vượt qua mọi hiểm nguy, đánh thắng giặc Pháp, giặc Mỹ, giặc xâm lược Tây nam, giặc bành trướng phương Bắc trong hơn 80 năm qua.

Ngay sau ngày tuyên bố độc lập, nhân dân cả nước ta đã phải đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, với thù trong, giặc ngoài, tiêu biểu là 3 loại giặc: Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Trước tình hình ấy, dưới một mục đích bất biến là giữ gìn độc lập, tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã khôn khéo chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi thác ghềnh. Ngày 2/1/1947, khi trả lời các nhà báo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng khái trả lời: "tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc... Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực l­ượng gì chiến thắng đư­ợc họ".

42.jpg
Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh 2/9 tại Quảng trường Ba Đình. Ảnh: K.MINH

Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ

Ngày 19/12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến.

Lời kêu gọi Người viết ra trong bối cảnh xe tăng và quân viễn chinh Pháp đang lăm le nổ súng vào ta ở ngay Thủ đô Hà Hội. Lời kêu gọi thể hiện khát vọng hòa bình, nêu bật ý chí và quyết tâm sắt đá bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Mở đầu Lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”.Trước dã tâm xâm lược và thái độ hung hăng của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Lời kêu gọi của Người đã khơi dậy lòng tự hào, tự tôn của dân tộc Việt Nam, đó là: Trước họa xâm lăng, thì mỗi người dân Việt Nam dù tôn giáo, chính kiến, tuổi tác, thành phần, dân tộc, nhận thức có khác nhau, song đều sẵn sàng đứng lên tham gia đánh thực dân Pháp, cứu nước bằng mọi cách, bằng bất kỳ vũ khí, phương tiện nào, miễn là góp được công sức cho công cuộc kháng chiến của dân tộc. Bởi lẽ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước, thì ai cũng phải làm nô lệ”.

Không có gì quý hơn Độc lập tự do năm 1966

20 năm sau, tháng 8/1965, Mỹ ồ ạt đổ 30 vạn quân viễn chinh cùng rất nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam Việt Nam và sau đó rất gấp rút tăng quân số lên gần cả triệu tên, hòng nhanh chóng “nhổ tận gốc” lực lượng cách mạng và bình định toàn miền Nam, đồng thời điên cuồng mở rộng chiến tranh “leo thang” bằng không quân và hải quân Mỹ ra miền Bắc, với mục tiêu ngông cuồng: Đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá.

Không khuất phục trước bè lũ xâm lược, ngày 17/7/1966, Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam đã truyền đi Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Từ 1946 đến 1966, hai thời điểm cách nhau vừa đúng 20 năm, đều ở vào hoàn cảnh Tổ quốc lâm nguy, trước kẻ thù có tiềm lực mạnh hơn gấp bội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều bình tĩnh, tin tưởng vào sức mạnh đoàn kết của nhân dân ta, long trọng thay mặt đồng bào cả nước tuyên bố quyết tâm chiến đấu để giữ nền độc lập.

Tính từ năm 1945, 1946 đến nay đã hơn 80 năm. Hôm nay, trong khung cảnh đất nước hòa bình, nhưng bối cảnh quốc tế vô cùng phức tạp, trước thời cơ và nguy cơ đan xen, trước yêu cầu giữ gìn hòa bình để xây dựng và phát triển, Đảng và Nhà nước ta đang phải hằng ngày xử lý hàng nghìn bài toán chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng… để mạnh mẽ vươn lên. Trong bước đi ấy, lời thề của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Lễ Độc lập ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945 “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” và những lời thề kháng chiến tiếp theo của Người tiếp tục được coi là kim chỉ nam, là ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam, giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vững bước đi vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên phồn vinh, thịnh vượng.

(Các trích dẫn trong bài được trích từ “Hồ Chí Minh, Toàn tập”, tập 4, 5, 15, NXB Chính trị quốc gia Sự thật).