Bức tranh lãi suất và lạm phát
Về nguyên tắc, điều hành lãi suất phải bảo đảm lãi suất thực dương, nghĩa là LSCV lớn hơn LSHÐ và lớn hơn tốc độ lạm phát. Vấn đề khó đó là lãi suất được xác định tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng nhưng khoản trả lãi lại theo tiến độ sau một thời gian nhất định. Thậm chí đến kỳ đáo hạn toàn bộ khoản tín dụng nên tốc độ lạm phát để so sánh với lãi suất phải là lạm phát trong tương lai hay cái mà giới học thuật hay gọi là lạm phát kỳ vọng - chỉ số rất khó dự báo trong một nền kinh tế nhiều biến động như Việt Nam. Chính vì vậy, nguyên tắc lãi suất thực dương có thể không đúng trong thực tế. Chẳng hạn, năm 2011, LSCV bình quân năm khoảng 20% và trần LSHÐ cao nhất là 14%/năm trong khi CPI cả năm tăng tới hơn 18%. Tuy vậy, LS tín dụng là một loại giá - giá vốn rất quan trọng không chỉ đối với tất cả các doanh nghiệp (DN) Việt Nam mà còn đối với các hộ gia đình khi quy mô tín dụng tính đến 30-4-2012 đã lên đến 2,6 triệu tỷ đồng và tổng tiền gửi 2,5 triệu tỷ đồng nên quan hệ mật thiết giữa LS và CPI là không thể phủ nhận.
Căn cứ vào diễn biến CPI quá khứ có thể thấy, nếu tính theo cuối kỳ thì CPI năm 2012 đang có xu hướng lặp lại năm 2009 từ đỉnh cao 23% vào tháng 8-2011 rơi xuống đáy 5,35% vào tháng 7-2012 và dự báo có thể tiếp tục đà rơi ít nhất đến cuối quý III/2012. Thực tế CPI năm 2009 đã xuống đáy 2% trước khi phục hồi lên mức 6,52% vào cuối năm. Theo đó, giả thiết thứ nhất là CPI năm nay sẽ xuống đáy vào khoảng tháng 8-9-2012 với khoảng 4% so cùng kỳ rồi phục hồi lên khoảng 7-8% vào cuối năm. Như vậy lộ trình giảm LSHÐ (và trần LSHÐ nếu còn) có thể xuống đáy vào khoảng 6% vào cuối quý III/2012 trước khi lên nhẹ khoảng 7-8% vào quý IV/2012. Do LSHÐ hạ nên LSCV bình quân cũng về mức 10-11% vào cuối quý III/2012 trước khi lên lại mức 12-13% trong quý cuối cùng của năm 2012...Vì vậy, lộ trình điều chỉnh và mức điều chỉnh cả LSHÐ và LSCV hoàn toàn có thể tương tự như giả thiết nêu trên.
Tuy nhiên, cần lưu ý là một số biến số vĩ mô của giai đoạn 2008-2009 rất khác so với giai đoạn 2011-2012, chẳng hạn như mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể không quá khác biệt, song tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng và tổng kim ngạch xuất khẩu lại diễn biến trái chiều đi đôi với hiện tượng chưa từng có là hàng vạn DN giải thể, ngừng hoạt động trong năm 2012 và thu NSNN trong nửa đầu năm 2012 đạt thấp hơn so với cùng kỳ năm trước do sự "đóng băng" không chỉ của thị trường tài sản mà còn của cả thị trường tài chính và thị trường hàng hóa dịch vụ. Những nhân tố này rất có thể khiến cho diễn biến CPI 2012 không hoàn toàn lặp lại quy luật 2009.
Diễn biến và kỳ vọng
Tương tự như tổng mức bán lẻ tăng thấp và số lượng lớn DN giải thể, nửa đầu năm 2012 còn chứng kiến hiện tượng hy hữu là tốc độ tăng tín dụng âm liên tiếp năm tháng sau khi đã tăng bình quân tới 30% trong mấy năm gần đây. Nguyên nhân cơ bản của tăng trưởng tín dụng âm là do LSCV quá cao lên tới 20-25%/năm và DN không tiếp cận vốn tín dụng hoặc do tắc đầu hoặc do không đủ điều kiện vay nợ, trong đó có lý do không còn tài sản thế chấp và tình trạng nợ xấu.
Báo cáo của NHNN cho thấy, bất chấp trần LSHÐ thực âm (14%/năm so với CPI 18%) suốt cả năm 2011 và giảm xuống còn 9%/năm từ 11-6-2012, song tổng tiền gửi của dân cư tính đến cuối tháng 4-2012 vẫn tăng tới gần 12% so với cuối năm 2011. Như vậy, tổng vốn huy động nửa đầu năm 2012 vẫn tăng gần 8% so với cuối năm 2011, mặc dù tốc độ tăng âm vào hai tháng đầu năm 2012 và tổng tiền gửi của các tổ chức kinh tế cũng âm do những khó khăn về tài chính của khu vực này. Rõ ràng, trong bối cảnh các kênh đầu tư khác như BÐS, chứng khoán, vàng và ngoại tệ hết sức bấp bênh thì gửi tiền tại các TCTD gần như là lựa chọn duy nhất của các hộ gia đình trong nửa đầu năm 2012 và có thể là cả năm 2012. Dĩ nhiên, trong tốc độ tăng tiền gửi không thể loại trừ yếu tố một số TCTD phá trần LSHÐ để tranh giành nguồn vốn và giải quyết thanh khoản. Hiện tượng tổng tiền gửi liên tục thấp hơn tổng tín dụng trong mấy năm gần đây cho thấy, khó khăn thanh khoản của một số TCTD là tất yếu, đặc biệt đối với những TCTD mới thành lập và mới tăng vốn, cả vốn điều lệ và vốn tự có.
Một điểm đáng lưu ý trong nửa đầu năm 2012, tốc độ tăng tiền gửi liên tục cao hơn tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán (M2) chứng tỏ tiền mặt ngoài lưu thông (VNÐ) bị cạn kiệt, mặc dù NHNN tuyên bố mua vào tới 9-10 tỷ USD tương đương 200 nghìn tỷ đồng để tăng dự trữ ngoại hối lên khoảng 19 tỷ USD. Ðó cũng có thể là lý do để giải thích tạo sao CPI lại tăng thấp như vậy suốt từ tháng 3-2012 đến nay.
Với những diễn biến trên, tổng vốn huy động của các TCTD sẽ không hoặc rất ít bị ảnh hưởng bởi việc hạ LS tiền gửi, theo đó lộ trình điều chỉnh LS tiền gửi đến cuối năm 2012 nêu trên được hỗ trợ bởi mục tiêu tăng tiền gửi và tăng M2 của cả năm. Một trong những nguyên nhân khiến cho tín dụng cho vay liên tục tăng trưởng âm và chỉ chuyển sang dương từ tháng 6-2012 là LSCV quá cao nên để đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho vay 10-13% của cả năm 2012 thì LSCV buộc phải điều chỉnh giảm mạnh, kể cả bằng biện pháp hành chính cũng như sử dụng công cụ thị trường.
Trong khi vẫn duy trì LS cơ bản 9% suốt từ cuối 2010 đến nay, chỉ bắt đầu từ tháng 3-2012 NHNN đã liên tục năm lần giảm các LS chủ chốt, đưa LS tái cấp vốn từ 15% xuống còn 10%/năm, LS tái chiết khấu từ 13% xuống 8%/năm, LS qua đêm liên ngân hàng (OMO) từ 16% xuống 11%/năm đi đôi với ép hạ trần LS tiền gửi như đã nêu trên. Ðồng thời NHNN một mặt cho phép tự do hóa LSHÐ tiền gửi trên một năm từ 11-6-2012, mặt khác buộc các NHTM áp dụng trần LS cho các khoản vay cũ là 15%/năm từ 15-7-2012. Ðồng thời hàng loạt NHTM công bố những gói tín dụng cho vay với LS thấp hơn tới 3-4% so với mặt bằng LS chung khoảng 15-18%/năm đối với một số lĩnh vực khuyến khích cho vay như nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ...
Rõ ràng tín hiệu nới lỏng tín dụng đã phát đi cả về LS và quy mô tín dụng cũng như lĩnh vực tín dụng cho vay. Kết quả là tốc độ tăng tín dụng cho vay so với cuối năm 2011 đã bắt đầu tăng trở lại. Nhiệm vụ trong thời gian từ quý IV sẽ là hoặc tiếp tục tăng mạnh tổng tín dụng để đạt mục tiêu tăng 15-17% như kế hoạch đề ra; hoặc tốc độ tăng tín dụng sẽ được điều chỉnh tăng chậm lại trước áp lực lạm phát quay đầu tăng trở lại do: Thứ nhất, tín dụng tăng quá nhanh và dồn dập; thứ hai, tính chất mùa vụ tăng giá cuối năm; thứ ba kích cầu đầu tư công quá mức nên sang quý IV/2012 tín dụng sẽ tăng chậm lại hẳn so với quý III/2012. Trong cả hai kịch bản tăng tín dụng nêu trên thì lộ trình điều chỉnh LSCV có xác suất cao và sẽ có xu hướng giảm trong quý III/2012 hoặc tăng nhẹ trở lại vào quý IV/2012 tương tự như dự báo.
Lộ trình điều chỉnh LSHÐ và cho vay còn chịu tác động của nhiều yếu tố không kém phần quan trọng khác nữa như chuyển dịch cơ cấu tín dụng, thực trạng hoạt động của các TCTD, biện pháp xử lý nợ xấu và cơ cấu lại hệ thống NHTM, cơ cấu lại thị trường tài chính và DNNN, nới lỏng đầu tư công và quy mô cũng như cơ cấu nợ công...
* Trong bối cảnh các kênh đầu tư khác như BÐS, chứng khoán, vàng và ngoại tệ hết sức bấp bênh thì gửi tiền tại các TCTD gần như là lựa chọn duy nhất của các hộ gia đình trong nửa đầu năm 2012 và có thể là cả năm 2012. Dĩ nhiên, trong tốc độ tăng tiền gửi không thể loại trừ yếu tố một số TCTD phá trần LSHÐ để tranh giành nguồn vốn và giải quyết thanh khoản.