Dự trữ thấp, phụ thuộc vào nhập khẩu
Theo ông Trần Quốc Khánh, nguyên Thứ trưởng Công thương, xung đột địa - chính trị tại Trung Đông là phép thử khắc nghiệt đối với hệ thống năng lượng của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Thực tế cho thấy, khoảng 85% dầu thô nhập khẩu của Việt Nam đến từ Trung Đông, phần lớn đi qua Eo biển Hormuz, tuyến hàng hải có tính chiến lược toàn cầu. Sự phụ thuộc bất đối xứng này trở thành rủi ro an ninh quốc gia cấp bách khi chỉ số "Dự trữ chiến lược" (lượng xăng dầu dự trữ quốc gia thuần túy) chỉ đáp ứng khoảng 9 ngày tiêu dùng ròng, thấp hơn rất nhiều so mức khuyến nghị 90 ngày của quốc tế.
Bối cảnh khủng hoảng về năng lượng này khiến Việt Nam - một nền kinh tế đang phát triển nhanh, nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa - phải đối mặt nhiều thách thức mang tính cấu trúc. Cụ thể, Việt Nam hiện ngày càng phụ thuộc vào nhập khẩu than và khí hóa lỏng để phục vụ sản xuất điện. Bên cạnh đó, hạ tầng năng lượng vẫn còn tồn tại nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là hệ thống truyền tải điện. Ngoài ra, quá trình chuyển dịch năng lượng theo hướng xanh hơn, sạch hơn và bền vững hơn đang đặt ra những yêu cầu rất cao về công nghệ, tài chính và thể chế. Với diễn biến xung đột Trung Đông có thể kéo dài và leo thang, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng sẽ không chỉ dừng lại ở xăng, dầu mà còn lan sang thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ ngành năng lượng. Thực trạng này đòi hỏi Việt Nam phải nhanh chóng nâng cấp tư duy và cách tiếp cận đối với bài toán an ninh năng lượng.
Trong tình hình hiện tại, theo TS Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cần nhìn lại khái niệm về an ninh năng lượng theo cách rộng hơn. Nếu trước đây, bảo đảm an ninh năng lượng chủ yếu là duy trì đủ nguồn cung cấp với chi phí hợp lý thì ngày nay, khái niệm này còn hướng tới tiếp cận toàn diện hơn, đó là bảo đảm tính tự chủ, tính linh hoạt và tính bền vững của hệ thống năng lượng.
Cần chiến lược tổng thể
Trước tình hình cấp bách hiện nay, PGS, TS Đinh Công Hoàng, Trưởng phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi (Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam) kiến nghị giải pháp theo lộ trình cụ thể. Theo đó, trong ngắn hạn, Việt Nam cần kích hoạt cơ chế “ngoại giao năng lượng”, đa dạng hóa nguồn cung và tối đa hóa công suất các nhà máy lọc hóa dầu trong nước. Đây là những biện pháp nhằm giảm thiểu tác động tức thời từ các cú sốc bên ngoài.
Trong trung hạn, trọng tâm là xây dựng hệ thống dự trữ chiến lược quy mô lớn. Về dài hạn, Việt Nam đang tái khởi động dự án điện hạt nhân Ninh Thuận hợp tác với Liên bang Nga; chuyển dịch năng lượng, tiết kiệm năng lượng và phát triển Chuỗi cung ứng pin (BESS). “Với các giải pháp theo lộ trình nói trên, Việt Nam đang thiết lập một hệ thống phòng thủ đa lớp vững chắc nhất. Nền tảng an ninh năng lượng tự cường này chính là bệ phóng để nền kinh tế trụ vững trước mọi cơn địa chấn toàn cầu, bảo đảm sự phát triển bền vững và khẳng định vị thế độc lập, tự chủ của quốc gia trong kỷ nguyên địa - chính trị mới”, PGS, TS Đinh Công Hoàng nhấn mạnh.
Trong khi đó, theo PGS, TS Tạ Đình Thi, để các giải pháp có thể phát huy tối đa hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải cách khung pháp lý theo hướng minh bạch, loại bỏ cơ chế “xin - cho” và tạo điều kiện thu hút đầu tư vào các dự án năng lượng quy mô lớn. Ngoài ra, việc tổ chức thực thi chính sách cũng cần được cải thiện. Nhiều dự án năng lượng trọng điểm hiện vẫn chậm tiến độ do vướng mắc thủ tục hành chính. Do đó, cần có cơ chế điều hành linh hoạt, quyết liệt để sớm đưa các dự án vào vận hành.
Trong một thế giới đầy biến động, các chuyên gia cho rằng, bài toán an ninh năng lượng của Việt Nam không thể giải quyết bằng một giải pháp đơn lẻ mà cần một chiến lược tổng thể. Việc xây dựng hệ thống an ninh năng lượng đa lớp, với kho dự trữ chiến lược đóng vai trò trung tâm, sẽ là nền tảng quan trọng giúp Việt Nam nâng cao sức chống chịu, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và khẳng định vị thế tự chủ trong kỷ nguyên địa-chính trị mới.