Tôi cũng chỉ mới biết ăn món sứa khoảng hai chục năm trở về trước. Thủa nhỏ sống trong một gia đình nghèo ngoại thành Hà Nội, chẳng bao giờ biết đến món quà rong nơi phố thị. Đến tuổi trưởng thành, tôi mới được làm quen với món sứa. Bảo là bởi cái duyên nghề nó đưa đẩy cũng đúng nhưng đúng phải là cái duyên ham thích những món ngon món lạ chưa được ăn ngày nhỏ của mình thì mới là chính xác. Cái duyên đó được nảy nở từ hàng bán sứa cụ Bích ở chợ Mơ những năm 95, 96 của thế kỷ trước.
Thông thường người chưa ăn bao giờ khi nhìn thấy chậu sứa của bà bán hàng sẽ cảm thấy sợ vì nó đỏ như máu, trông từng tảng sứa như những miếng thịt tươi còn sống đang nhuốm mầu máu đỏ và chả có chút gì là hấp dẫn cả. Nhưng khi bà cụ cắt từng miếng sứa mỏng đặt vào cái đĩa nhỏ, rồi rắc lên đó những mảnh dừa bánh tẻ trắng ngần được thái mỏng, vài lát đậu Mơ nướng than hoa vàng nghệ xém đen thì đĩa sứa đã thành một món ăn đậm sắc màu, bắt mắt lắm. Nhưng để bắt miệng được thì, trên mỗi khay đựng suất sứa, sẽ có một bát mắm tôm chính hiệu Ba làng nổi danh xứ Thanh đã được bà cụ pha chế với đường, dấm, ớt bột, quất và ớt tươi; rồi một nắm lá tía tô, kinh giới đi kèm và món sứa đã trở thành một huyền thoại trong trí nhớ của những người ăn sứa vào ngày chuyển mùa từ thời tiết ẩm ương sang nắng nóng. Để rồi, hằng năm, người bán, người mua đều cứ chọn đúng tháng 2 để tìm đến nhau.
Người bán giờ là cô Luyến, cháu dâu của bà cụ. Cô là thế hệ thứ ba trong gia đình bán sứa. Thời bà nội nhà chồng là cụ Bích, rồi mẹ chồng là cụ Thanh, bán sứa có tiếng ở chợ Mơ. Cho đến ngày cô tiếp quản gánh sứa rồi dịch chuyển về ngõ Gốc Đề thì cũng đã hơn chục năm.
Ăn sứa người thích ăn miếng mỏng, người thích ăn chân sứa vì nó giòn và không phộp phạp, mềm nhũn như miếng thân sứa to dày. Ngày ăn sứa hàng cụ Bích chợ Mơ, tôi được một cụ bà nghiền ăn sứa chỉ cho cách ăn không dùng đũa, mà dùng tay, cuộn nhiều rau kinh giới, tía tô, với một miếng đậu nướng, một miếng cùi dừa, một miếng sứa, chấm với mắm tôm. Thế là đủ vừa một miếng vào miệng, không bị phồng mồm, phồng miệng khi ăn, cũng không sợ dây mắm tôm ra ngoài như ăn bằng đũa.
Cô Luyến bán sứa mau chuyện, khách hỏi gì cô cũng kể, giọng tự hào: nào là bà cụ bán sứa từ thời bao cấp, mùa nào bán thức nấy. Bởi sứa chỉ có được trong khoảng hai tháng rưỡi thôi. Hễ có sấm chớp là không còn sứa nữa... Nào là mùa hè thì bán bánh đúc nộm, mùa đông bánh đúc nóng... Cứ thế ba thế hệ nhà cô bán hàng không bỏ, nghỉ buổi chợ bao giờ. Nào là khách thì nhiều người từ xa tới, Việt kiều về nước cũng tìm đến hàng sứa nhà cô. Rồi chuyện chợ Mơ xây dựng thành trung tâm thương mại, các tiểu thương bị đẩy xuống hầm. Hàng sứa gia đình cô cũng phải bỏ chợ chuyển về gần nhà, bán ở ngõ Gốc Đề này. Nhưng có vắng khách đâu. Một mình cô bán không xuể, phải thêm chồng phụ giúp, sắp xếp xe máy, chạy bàn bưng bê. Nhiều lúc cũng cãi nhau vì bán hàng. Nhưng đó là do đông khách quá, quán hàng thì bé, ngõ chợ thì chật.
Ăn sứa chỉ thấy mát ruột, chứ không thấy no. Thích nhất là những ngày nóng nức chuyển mùa, hàng sứa lúc nào cũng đắt khách, người lớn, thanh niên, trẻ nhỏ đều có cả. Ai cũng nhắc nhớ một câu: Ăn sứa cho mát ruột. Ăn sứa cho đỡ nhớ.