Mèng ơi! Tạ ơn một cơn mưa tắm mát những khô cằn cho vườn cây của bà.
Rồi như nhớ đến điều gì đó, bà vội đứng dậy cắp cái nón. Con Mực đang nghịch mấy con cóc trước hiên nhà, nghe tiếng bà gọi, vẫy đuôi chạy theo ra mảnh vườn cạnh nhà.
Đám cỏ cứng đầu hôm nào bám riết dưới mấy gốc sầu riêng. Nay mưa đất mềm, đã dễ dàng được nhổ đi bằng bàn tay cần mẫn. Gần tám mươi, bà thấy mình còn khỏe lắm, việc vườn tược, đám thanh niên trong xóm vẫn nhìn bà bằng ánh mắt nể trọng. Con cháu mỗi khi về thăm, thấy bà luôn tay luôn chân lại bảo nhau hùn tiền thuê người làm, để bà dành sức khoẻ sum vầy cùng con cháu. Bà trả lời chúng với nụ cười nhân hậu pha nỗi buồn. Sự sum vầy mà chúng nói chỉ thưa thớt tính bằng những ngày như cơn mưa vội đi qua xứ này. Các con bà bỏ nghiệp nhà nông lên thành phố làm thuê. Bỏ lại mình bà với ba mẫu vườn trái cây mít, ổi, chôm chôm, sầu riêng... thứ gì đến mùa cũng sai quả. Chỉ có trống vắng là thênh thang.
Năm nay, đám chôm chôm nhà người ta còn đương bông lá xanh thì vườn nhà bà đã chín đỏ cả một góc. Bà đón xe đò gửi lên thành phố, khấp khởi ý nghĩ cháu nội, cháu ngoại sẽ thích lắm.
Sớm nay, cắt mấy chùm chôm chôm mà lòng buồn man mác, bà nói với con Mực: “Lại một mùa chôm nữa thằng Hưng nó không về Mực à!”. Con Mực như biết bà buồn, bà nhớ nên cũng sủa vài tiếng.
*
- Tui được thằng cháu biếu cặp dầu nóng mang qua cho chị một chai đặng lúc đau nhức có cái mà thoa.
Bà bỏ chai dầu bà Thơm vừa đưa vào túi chiếc áo bà ba, đưa tay vuốt những giọt nước chực rơi vờ như vuốt hạt bụi đang vương nơi khóe mắt. Tình bạn già, tình làng nghĩa xóm, cảm mến nhau từ hành động nhỏ bé. Dù thời trẻ hai bà chẳng ưa gì nhau. Bà Thơm vô tình nhìn vào đôi mắt đang hoe đỏ của bà Bảy, biết cơ sự sao mà đôi mắt ấy đượm buồn. Chợt bà Thơm nói như cách người miền Tây vẫn hay thật thà chia sẻ nỗi buồn cùng nhau:
- Buồn nhớ làm chi cái đứa con nuôi, con nuôi như người dại nuôi tu hú vậy thôi...
Bà Bảy lặng im khi nghe lời chia sẻ như than trách của người hàng xóm. Bà lặng lẽ mân mê những quả chôm chôm chín đỏ trong rổ, thoáng chốc đưa mắt nhìn về phía cổng nơi hàng rào râm bụt. Bà nghĩ chẳng biết nó có ăn uống đầy đủ không? Bệnh đau bao tử có hành nó nhiều không?
Mỗi khi nhớ Hưng, bà lại tự gieo vào lòng những câu hỏi nhớ thương cho đứa con nuôi đã bỏ đi khuất vào cơn mưa vội.
Bà Thơm đã nghe chuyện của bà Bảy hơn chục năm nay nên chẳng còn chút nhẫn nại hay cảm thông về đứa con nuôi đã bặt tin. Bà vừa cảm thương vừa bực dọc cho sự đợi chờ vô vọng của bà Bảy. Chẳng biết bởi đâu bà Bảy lại luôn cố giữ niềm tin rằng Hưng sẽ trở về.
*
Hồi con gái, út Bảy đẹp nhất xóm, là con nhà giáo nên khi vừa tròn mười sáu con trăng, nhiều đám mang trầu cau đến hỏi. Bà về làm dâu nhà ba Nhơn, con một điền chủ giàu có trong vùng. Sau đám cưới, vợ chồng Bảy Nhơn mòn mỏi chờ đợi sự chào đời của những đứa con. Vậy mà mãi đến năm con trăng thứ mười tám, út Bảy mới có bầu, nhưng đứa con gái đầu lòng được sinh ra cùng sự thất vọng của gia đình nhà chồng. Đứa con thứ hai rồi thứ ba vẫn mang dáng hình của mẹ.
Ba Nhơn là con trưởng nên việc có con trai nối dõi là hệ trọng của cả dòng họ. Áp lực từ gia đình chồng đè nén, mẹ chồng bảo cứ sinh khi nào ra được thằng con trai mới thôi. Út Bảy khóc phận đàn bà như gà, như vịt của mình.
Càng nghĩ, út Bảy càng cảm thấy thương những đứa con gái của mình. Có lần tuyệt vọng, út Bảy viết sẵn giấy ly hôn để ba Nhơn có thể kiếm tìm hạnh phúc mới. Có đứa con trai nối dõi, gia đình chồng sẽ không phải hổ thẹn với những dòng họ khác. Nhưng cái ý nghĩ cao thượng dành cho nhà chồng ấy chẳng vượt qua sự bao dung của tấm lòng người mẹ. Út Bảy giấu nhẹm lá đơn khi nghe tiếng khóc của đứa con gái đang khóc vì khát sữa.
Út Bảy kêu cầu thuốc nam, thuốc bắc, cầu khẩn tâm linh với hy vọng những đứa con sẽ có đủ ba đủ mẹ. Chứ như nhà chị Thơm kế bên, côi cút hai mẹ con, nghĩ sao mà buồn. Đêm càng buồn hơn khi một câu vọng cổ thê lương từ bên kia vẳng về. Út Bảy mang bầu lần thứ sáu với niềm tin rằng đứa con được sinh ra là trai, bởi út Bảy vẫn uống đều những thang thuốc như lời thầy lang dặn và siêng năng đi lễ.
*
Ngày đứa con chào đời, nghe tiếng khóc mà út Bảy quặn thắt như có trăm ngàn đòn roi quất vào da thịt. Nhìn đôi mắt mẹ chồng đang lườm nguýt, út Bảy lại nghĩ đến tờ đơn ly hôn để trong hộc bàn. Có lẽ ba Nhơn đã chạy sang nhà kế bên uống rượu giải sầu cùng cô Thơm. Một hôm, khi con gái út vừa tròn tháng. Mẹ chồng thẳng thừng nói như rút hết ruột gan: “Các cụ ngày xưa cứ hễ khó nuôi, khó đẻ là đi xin mụn con nuôi. Vợ chồng bay cũng làm giấy xin một mụn con trai về nuôi làm phúc, biết đâu trời thương tình”.
Lời mẹ chồng nhắc đến cái sự làm phúc mà út Bảy càng nghĩ càng thấy cay đắng thấu tận tim gan. Có phải út Bảy không biết chửa đẻ gì đâu, chỉ là đứa con trai nối dõi vẫn đến trong giấc mơ và suy nghĩ. Út Bảy nhận nuôi Hưng ở trạm xá xã sau khi người mẹ sinh ra đứa con trai ấy vội bỏ lại rồi biến mất vào cơn mưa vội của màn đêm. Sau khi nhận nuôi Hưng được một năm, út Bảy có bầu rồi sinh đôi hai thằng con trai. Vậy là tất thảy 9 người con sáu gái, ba trai.
Từ lúc nhận Hưng về nuôi, chưa một giây nào út Bảy nghĩ Hưng không phải con mình. Út Bảy luôn nghĩ đến trách nhiệm chăm sóc, dạy dỗ chúng nên người. Út Bảy luôn dặn những chị em trong gia đình giấu và coi Hưng như anh em ruột thịt. Nhưng con người đâu giống như cây cỏ ngoài vườn. Hưng lớn lên, nghe những lời ca thán của làng trên xóm dưới, cùng cách đối xử của bà nội, phận con nuôi Hưng đã rõ. Một lần, Hưng nấu cơm khê. Bà nội quật bàn tay Hưng sưng đỏ bằng chiếc đũa cả. Mấy ngày liền, Hưng hờ hững với việc vườn tược rồi bỏ đi biệt tăm trong một ngày mưa vội.
*
Sau ngày Hưng đi, bà Bảy chưa khi nào thôi nhớ mong, thôi nuôi hy vọng rằng con trai sẽ trở về. Bất kỳ đi đến nơi nào, gặp gỡ ai, bà đều cậy nhờ người ta tin tức của Hưng, nhưng đều vô vọng...
Năm nay bà đã ngoài tám mươi, bà nhẩm tính thằng Hưng nó ba mươi tư tuổi rồi. Nếu nó ở nhà, bà đã cưới vợ cho nó. Bà buông lời trăn trở trong lòng với con Mực đang gác đầu lên chân bà mà ngủ, dưới cái nắng hoàng hôn đang tắt dần. 9 người con tất thảy nhưng chúng lớn lên đều tìm đường thoát cảnh ruộng vườn ra thành phố mưu sinh. Mỗi đứa một phương một nghề, nhiều khi bà nhớ lắm nhưng ráng nén cảm xúc, nỗi nhớ đợi dịp lễ Tết, giỗ chạp. Bà sợ cái nỗi nhớ của người già ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc của con cháu.
Trời còn chút thương bà mà níu lại cho bà cô con gái lấy chồng xóm bên, thi thoảng đau yếu cũng còn đứa thuốc men. Trưa nay, chén cơm nóng đứa cháu ngoại vừa bới cho bà chưa kịp đụng đũa thì cái điện thoại trên bàn vang lên. Bà thấy trong người nóng lên khi nghĩ sắp nhỏ có chuyện chi mà gọi về giờ này. Số điện thoại lạ khiến bà ngập ngừng:
- Alo, sắp nhỏ nào bên đầu dây đó?
- Dạ chào bác, cháu là y tá gọi đến từ bệnh viện tỉnh. Anh Nguyễn Đông Hưng có phải người nhà của bác...?
Nghe đến tên con, lại thêm câu bệnh viện tỉnh thì lòng bà nóng như lửa đốt. Chẳng còn đủ kiên nhẫn mà nghe cho xong cuộc điện thoại, bỏ dở chén cơm vừa đụng đũa, vội cắp chiếc nón lá đi về phía cổng, bà đi về phía nhà cô con gái út. Vừa đi bà vừa gọi “Ái ơi, thằng Hưng nó đang nằm bệnh viện tỉnh, bay chở mẹ lên với em nó!”. Con gái, con rể dù có nói thế nào, bà cũng nhất quyết đòi theo lên viện cho bằng được, suốt cả chặng đường bà cứ khóc mà than: “Hưng ơi, sao dại quá con ơi!”.
Nhìn thấy Hưng nằm trên giường bệnh trắng toát, mình mẩy đầy dây rợ, bà ngã quỵ xuống nền. Mặc cho mọi người can ngăn, bà cứ níu lấy tay ông bác sĩ mà khóc lóc rằng sao con tôi lại thành ra thế này, sao ông lại bó con trai tôi thế kia?
- Bác à, con trai bác bị tai nạn giao thông, ngoài hai chân phải bó bột thì anh ấy không có gì nguy hiểm đến tính mạng cả.
Phải đến khi nhận được lời bảo đảm từ bác sĩ, bà mới tin Hưng. Rồi bà cứ ngồi cạnh bên nắm lấy bàn tay con, bà sợ bà buông ra thì con bà sẽ lại biến mất. Bà cứ ngồi như thế suốt đêm bên giường bệnh, lấy khăn ấm lau mặt cho Hưng. Bà nắm tay con mà thủ thỉ rằng, con người ta đâu nhất thiết phải có cùng một dòng máu thì mới được gọi là gia đình.
Rồi bà sẽ đưa Hưng, đứa con bà thương yêu như con đẻ về lại căn nhà bên mảnh vườn đón những mùa chôm chôm chín đỏ. Những cơn mưa vội sẽ không làm lòng bà cảm thấy thênh thang.