Xây dựng đội ngũ cán bộ công nghệ sinh học đủ mạnh, xứng “tâm” và xứng “tầm” trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển các công nghệ chiến lược là một trong những ưu tiên hàng đầu, trong đó có công nghệ sinh học. Cụ thể hóa định hướng này, Quyết định số 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục khẳng định công nghệ sinh học là một trong 11 nhóm công nghệ chiến lược của quốc gia.

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: VÂN NGA)
Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. (Ảnh: VÂN NGA)

Tuy nhiên, để lĩnh vực này phát triển tương xứng với kỳ vọng, yêu cầu cấp thiết là xây dựng đội ngũ cán bộ đủ mạnh, hội tụ cả “tâm” và “tầm”. Chung quanh vấn đề này, Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm).

Phóng viên: Thưa Giáo sư, Giáo sư đánh giá thế nào về nhu cầu nhân lực công nghệ sinh học của Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh lĩnh vực này đã đạt được những thành tựu bước đầu?

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà: Nhu cầu nhân lực công nghệ sinh học (CNSH) ở Việt Nam hiện đang ở trạng thái “khát” nguồn nhân lực chất lượng cao. Dù đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận trong chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, sản xuất vaccine, y-sinh…, song quy mô ứng dụng vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.

Đáng chú ý, nhu cầu nhân lực không còn bó hẹp trong các viện nghiên cứu mà đang chuyển dịch mạnh sang khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là khối tư nhân và FDI. Các lĩnh vực như chế biến nông sản, dược phẩm sinh học, xử lý môi trường… đều đòi hỏi đội ngũ kỹ thuật viên lành nghề cùng các chuyên gia có khả năng làm chủ những công nghệ tiên tiến như chỉnh sửa gene, tế bào gốc, sinh học tổng hợp, tin sinh học,… được trang bị tốt các kỹ năng về đổi mới sáng tạo.

Theo định hướng tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/1/2023 của Bộ Chính trị, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển công nghệ sinh học trở thành ngành kinh tế-kỹ thuật mũi nhọn, từng bước vươn lên nhóm quốc gia có nền CNSH phát triển hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn hiện nay là thiếu đội ngũ “tổng công trình sư” - những “kiến trúc sư trưởng” có tầm nhìn chiến lược, đủ năng lực phát hiện và làm chủ công nghệ nguồn, dẫn dắt các nhiệm vụ quy mô lớn cấp quốc gia.

Đây phải là những chuyên gia đầu ngành, có uy tín và kinh nghiệm, sở hữu các công trình, sáng chế, sản phẩm có giá trị thực tiễn; đồng thời có khả năng giải quyết các bài toán kỹ thuật phức tạp, liên ngành, xử lý tình huống công nghệ và đề xuất các giải pháp đột phá nhằm thúc đẩy triển khai hiệu quả các dự án trong thời gian giới hạn.

02.jpg
Lãnh đạo Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam báo cáo Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn về những thành tựu nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ sinh học. (Ảnh: Đức Ngân)

Phóng viên: Giáo sư đánh giá như thế nào về những khó khăn, vướng mắc lớn nhất hiện nay trong công tác đào tạo nguồn nhân lực công nghệ sinh học, cả về chương trình, đội ngũ giảng viên và hạ tầng đào tạo? Khoảng cách giữa yêu cầu thực tiễn về nhân lực công nghệ sinh học và năng lực đào tạo hiện nay đang bộc lộ rõ ở những khâu nào?

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà: Thực trạng đào tạo công nghệ sinh học hiện nay đang bộc lộ một số điểm nghẽn đáng chú ý. Công nghệ sinh học là lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực thực nghiệm rất lớn. Mặc dù tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã hình thành hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, cùng các cơ sở đào tạo chất lượng cao như Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Học viện Khoa học và Công nghệ, đã đáp ứng phần nào nhu cầu thực hành, nghiên cứu khoa học của các học viên và sinh viên học tập tại các cơ sở của Viện Hàn Lâm, song trên bình diện chung, các cơ sở đào tạo đại học của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế về điều kiện thực hành cho sinh viên.

Thứ nhất, về chương trình và điều kiện đào tạo: Do đặc thù chi phí cao cho hóa chất, vật tư tiêu hao và trang thiết bị, nhiều cơ sở đào tạo chưa đủ điều kiện để tổ chức thực hành chuyên sâu. Sinh viên vì vậy thiếu cơ hội “làm thật”, chủ yếu tiếp cận ở mức cơ bản, thậm chí còn tình trạng “học chay”, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực thực nghiệm.

Thứ hai, về đội ngũ giảng viên: Chúng ta có lực lượng giảng viên vững về lý thuyết, đạt chuẩn học hàm, học vị quốc tế. Tuy nhiên, kỹ năng gắn với thực tiễn như quản trị dự án khoa học, sở hữu trí tuệ, hay định hướng thương mại hóa sản phẩm, các kiến thức kỹ năng về đổi mới sáng tạo vẫn chưa được chú trọng tương xứng.

Thứ ba, về khoảng cách với thực tiễn sản xuất: Đây là điểm yếu rõ nét nhất. Sinh viên có thể thực hiện tốt trong môi trường phòng thí nghiệm, nhưng còn lúng túng khi chuyển sang vận hành ở quy mô pilot hoặc sản xuất công nghiệp, như hệ thống lên men lớn hay dây chuyền tự động trong doanh nghiệp được vận hành theo các tiêu chuẩn ISO, GMP,...

Những điểm nghẽn này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải đổi mới toàn diện mô hình đào tạo, gắn chặt hơn với thực tiễn và nhu cầu của thị trường.

3.jpg
Công nghệ sinh học "Make in Vietnam" gắn với tầm quan trọng của hợp tác 3 nhà. (Ảnh minh họa: Thế Đại)

Phóng viên: Trong bối cảnh nhiều luật và chính sách liên quan ngành công nghệ sinh học được ban hành hoặc sửa đổi, theo Giáo sư những quy định này sẽ tạo thuận lợi gì cho công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực công nghệ sinh học? Các cơ sở đào tạo cần chuẩn bị và điều chỉnh như thế nào để tận dụng tốt các hành lang pháp lý mới?

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà: Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/1/2023 và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã mở ra hành lang pháp lý rộng, tạo dư địa quan trọng cho phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong giai đoạn mới.

Trên nền tảng đó, vấn đề đặt ra hiện nay là tổ chức thực thi hiệu quả các cơ chế, chính sách nhằm gắn kết chặt chẽ hơn giữa đào tạo, nghiên cứu và thị trường. Trước hết, các quy định mới cần được cụ thể hóa theo hướng khuyến khích hình thành các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ngay trong trường đại học, đồng thời tạo điều kiện để nhà khoa học tham gia sâu hơn vào quá trình thương mại hóa sản phẩm.

Tiếp đó, các cơ sở đào tạo cần chủ động xây dựng mô hình “doanh nghiệp trong nhà trường”, điều chỉnh quy chế theo hướng mở để thu hút chuyên gia từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy, đồng thời phối hợp xây dựng chương trình, giáo trình bám sát nhu cầu thực tiễn của thị trường.

dsc9587-2.jpg
Nghiên cứu công nghệ sinh học tại Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. (Ảnh: USTH)

Phóng viên: Theo Giáo sư, dự báo nhu cầu và xu hướng đào tạo nhân lực công nghệ sinh học trong 5 đến 10 năm tới sẽ thay đổi ra sao, nhất là trước sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ như hiện nay? Những kỹ năng, năng lực nào sẽ trở thành yêu cầu bắt buộc đối với nguồn nhân lực công nghệ sinh học trong thời gian tới?

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà: Trong thập kỷ tới, công nghệ sinh học sẽ không còn phát triển theo hướng độc lập, mà chuyển mạnh sang xu thế hội tụ giữa sinh học-công nghệ thông tin-trí tuệ nhân tạo (Bio-IT-AI).

Trên nền tảng đó, các hướng đi chủ đạo sẽ tập trung vào y học cá thể hóa, nông nghiệp thông minh và kinh tế tuần hoàn. Kéo theo xu thế này, yêu cầu về nguồn nhân lực cũng thay đổi căn bản. Trước hết, tin sinh học (bioinformatics) trở thành kỹ năng cốt lõi, đòi hỏi khả năng xử lý và phân tích dữ liệu lớn.

Cùng với đó là năng lực số, đặc biệt trong vận hành các hệ thống tự động hóa và ứng dụng AI vào mô phỏng, phân tích sinh học. Bên cạnh chuyên môn, ngoại ngữ và tư duy kinh doanh cũng là những yêu cầu không thể thiếu, giúp người làm công nghệ sinh học tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Phóng viên: Giáo sư kỳ vọng gì vào sự phối hợp giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp để phát triển hệ sinh thái đào tạo nhân lực công nghệ sinh học bền vững?

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà: Tôi kỳ vọng vào một hệ sinh thái cộng sinh thực thụ, trong đó Nhà nước giữ vai trò “kiến tạo”, cấp vốn mồi cho các dự án nghiên cứu trọng điểm và xây dựng các trung tâm công nghệ sinh học quốc gia dùng chung.

Các cơ sở đào tạo sẽ là nơi cung cấp nhân lực và các ý tưởng sơ khai. Doanh nghiệp đóng vai trò là “người đặt hàng” và “phòng thí nghiệm thực tế”.

Đặc biệt, các doanh nghiệp nên đầu tư trực tiếp vào các phòng thí nghiệm (lab) tại trường đại học để “đặt hàng” nhân sự là các sinh viên giỏi đang ngồi trên ghế nhà trường ngay năm học thứ 2, năm học thứ 3.

1.jpg
Ứng dụng công nghệ sinh học đã giúp cây ngô có năng suất vượt trội. (Ảnh minh họa)

Phóng viên: Theo Giáo sư, để xây dựng nhân lực ngành công nghệ sinh học vừa bảo đảm về chất lượng, cũng như số lượng, về phía Nhà nước, các cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng nhân lực ngành này cần có những giải pháp gì?

Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà: Để giải quyết căn cơ bài toán nhân lực công nghệ sinh học, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ chính sách vĩ mô đến tổ chức thực thi.

Trước hết, về phía Nhà nước, cần xây dựng cơ chế đãi ngộ đặc thù đối với nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là các nhà khoa học đầu đàn, “tổng công trình sư”, nhằm hạn chế tình trạng chảy máu chất xám; đồng thời ưu tiên đầu tư có trọng điểm, tránh dàn trải.

Trong bối cảnh đó, Nghị định số 231/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 của Chính phủ về tuyển chọn, sử dụng Tổng công trình sư, Kiến trúc sư trưởng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xem là một bước tiến mang tính đột phá.

Trên cơ sở này, cơ chế định danh và đãi ngộ cũng được thiết lập rõ ràng hơn, với các tiêu chí cụ thể về năng lực vượt trội, uy tín khoa học và sản phẩm thực tiễn như sáng chế, công nghệ được thương mại hóa. Điều này góp phần tạo dựng môi trường và điều kiện xứng tầm để đội ngũ chuyên gia hàng đầu, trong đó có các nhà khoa học tại Viện Hàn lâm, yên tâm theo đuổi và dẫn dắt những nhiệm vụ lớn.

Đáng chú ý, Nghị định cũng trao quyền hạn đặc thù cho các “tổng công trình sư”, cho phép chủ động quyết định các giải pháp kỹ thuật then chốt, qua đó rút ngắn thời gian triển khai dự án - khắc phục những rào cản từng tồn tại do thủ tục hành chính.

Ở cấp độ đào tạo, các cơ sở giáo dục cần đẩy mạnh mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng, gắn với nhu cầu thực tiễn; đồng thời triển khai mô hình đào tạo song hành (dual education), kết hợp học tập tại trường với thực tập dài hạn tại doanh nghiệp.

Song song với đó, các đơn vị sử dụng lao động cũng cần chủ động hơn trong việc kết nối với các trường đại học, học viện thông qua học bổng, hỗ trợ trang thiết bị và tham gia vào quá trình đào tạo, thay vì chỉ chờ tuyển dụng khi sinh viên tốt nghiệp. Qua đó, hình thành hệ sinh thái nhân lực bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành trong giai đoạn tới.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà!

Có thể bạn quan tâm

Hội thảo khoa học quốc tế về giác mạc sinh học.

Công nghệ giác mạc sinh học giúp phục hồi thị lực

Việt Nam có tới hơn 500.000 người bị mù do bệnh lý giác mạc và có nhu cầu cần ghép giác mạc. Giác mạc sinh học được xem là bước tiến quan trọng trong điều trị mù lòa tại Việt Nam, góp phần từng bước chủ động thay thế giác mạc truyền thống, giúp cho hàng nghìn người bệnh bị mù do các bệnh lý giác mạc có thể phục hồi được thị lực.

Chuỗi giá trị tuần hoàn từ cây gai xanh của Công ty cổ phần Tập đoàn Gai Thiên Phước, góp phần hình thành nguồn nguyên liệu xanh cho ngành dệt may.

Nút thắt từ công nghệ đến ứng dụng

Hướng tới mục tiêu Net Zero vào năm 2050, chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển. Tuy nhiên, giữa tiềm năng công nghệ và khả năng triển khai vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể khi cơ chế, nguồn lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo chưa theo kịp.

Người dân xã Lý Nhân (Ninh Bình) trồng táo đại mật 06 theo hướng VietGAP cho hiệu quả cao.

Ứng dụng khoa học-công nghệ vào sản xuất nông nghiệp

Ứng dụng khoa học, công nghệ được coi là “chìa khóa” để phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại và bền vững. Đây là giải pháp tối ưu nhằm tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và tăng sức cạnh tranh xuất khẩu.

Người dân cần cảnh giác với hành vi lừa đảo thông qua thu thập thông tin cá nhân tại các phiên livestream.

“Mồi ngon” của các đối tượng lừa đảo tại các phiên livestream

Hiện nay, các phiên livestream bán hàng, tư vấn dịch vụ, tử vi, tướng số trên mạng xã hội ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, ít ai nhận ra rằng việc để lại số điện thoại, ngày tháng năm sinh hay thông tin cá nhân ở phần bình luận lại trở thành “mồi ngon” để tội phạm công nghệ cao lợi dụng thực hiện hành vi lừa đảo.

Sở hữu trí tuệ: Tạo "hạ tầng mềm" cho kinh tế số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Sở hữu trí tuệ: Tạo "hạ tầng mềm" cho kinh tế số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ chính thức có hiệu lực từ 1/4/2026. Chung quanh những điểm mới và yêu cầu đặt ra trong tổ chức thực thi Luật, phóng viên Báo Nhân Dân có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.

Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia:. (Ảnh: PV)

Nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng quốc gia

Đề án hướng tới nâng cao năng lực tổng thể, xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh mạng tinh nhuệ, hiện đại, chủ động phòng ngừa, sẵn sàng ứng phó hiệu quả với mọi nguy cơ, thách thức trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng.

Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo trao các giải Nhất tặng các thí sinh đạt giải.

Viện Hóa học khẳng định không liên quan dự án đạt giải Nhất Cuộc thi Khoa học, kỹ thuật quốc gia

Ngày 30/3, Viện Hóa học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chính thức thông tin và khẳng định không liên quan dự án đạt giải Nhất Cuộc thi Khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh năm học 2025-2026; đồng thời, đề nghị các cơ quan chức năng sớm xác minh, làm rõ vụ việc.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Vinh phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: Mạnh Xuân)

Nghiên cứu hoàn thiện thể chế phát triển hệ thống giáo dục

Chiều 30/3, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức hội thảo trao đổi, thảo luận về cơ sở khoa học của đề tài khoa học cấp Nhà nước: Hoàn thiện thể chế phát triển hệ thống giáo dục nhằm góp phần tạo động lực phát triển nhanh và bền vững đất nước trong điều kiện mới.