Hoàn thiện cơ chế sở hữu trí tuệ cho công nghệ chiến lược

Quá trình phát triển các công nghệ chiến lược, sở hữu trí tuệ đang chuyển từ vai trò bảo hộ sang công cụ khai thác giá trị, đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Xử lý đơn đăng ký quyền sở hữu trí tuệ tại Cục Sở hữu trí tuệ. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)
Xử lý đơn đăng ký quyền sở hữu trí tuệ tại Cục Sở hữu trí tuệ. (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

Tuy nhiên, hiện nay, khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa vẫn còn lớn, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện cơ chế theo hướng linh hoạt, chia sẻ lợi ích và chấp nhận rủi ro.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các quy định trong Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ đều cho thấy xu hướng chuyển từ cách tiếp cận quản lý sang khai thác, trong đó quyền sở hữu và quyền khai thác kết quả nghiên cứu được trao nhiều hơn cho tổ chức chủ trì và khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp.

Sở hữu trí tuệ không chỉ còn là công cụ bảo hộ, mà dần trở thành “đòn bẩy” để hình thành sản phẩm, doanh nghiệp và thị trường công nghệ. Thời gian qua, hệ sinh thái sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đang có những chuyển động tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho thương mại hóa công nghệ.

Theo ông Lưu Hoàng Long, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội. Trước đây, hoạt động của Cục Sở hữu trí tuệ chủ yếu tập trung việc xác lập quyền cho các chủ thể quyền.

Tuy nhiên, gần đây, Cục đã mở rộng không gian hoạt động theo hướng toàn diện hơn, trong đó có việc thúc đẩy thương mại hóa và khai thác thương mại tài sản trí tuệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ cũng cho thấy sự gia tăng mạnh về số lượng các sáng chế. Năm 2025, số lượng đơn đăng ký sáng chế của cá nhân, tổ chức Việt Nam đạt 2.288 đơn, tăng 36% so với năm 2024, trong khi số văn bằng bảo hộ được cấp đạt 1.108, tăng tới 134,2%, vượt xa mục tiêu tăng trưởng trung bình 16-18%/năm theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Cục Sở hữu trí tuệ cũng đã khảo sát thử nghiệm trực tiếp đối với chủ sở hữu sáng chế để đánh giá thực trạng khai thác thương mại và kết quả cho thấy khả năng khai thác sáng chế cũng đang được cải thiện, với tỷ lệ sáng chế có tiềm năng thương mại hóa ước đạt khoảng 8,56%, cơ bản đạt mục tiêu 8-10% Nghị quyết số 57-NQ/TW đề ra.

Theo các chuyên gia, đây là con số đáng chú ý trong bối cảnh hoạt động thương mại hóa công nghệ tại Việt Nam còn mới, cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn nếu có cơ chế phù hợp.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Tiến Dũng, Trưởng ban Ứng dụng và Triển khai công nghệ (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết, cơ chế sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu công nghệ chiến lược cần được hoàn thiện theo hướng khuyến khích thương mại hóa, đồng sở hữu và khai thác linh hoạt, thay vì tiếp cận thuần túy theo quản lý hành chính.

Cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia từ sớm vào quá trình nghiên cứu, phát triển, cùng nắm giữ, khai thác và chịu trách nhiệm đối với quyền sở hữu trí tuệ hình thành từ các nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Hoạt động chuyển giao và thương mại hóa công nghệ chiến lược cần được thiết kế theo hai cách tiếp cận chính sách song song, có phân loại rõ ràng theo mức độ hoàn thiện và mục tiêu phát triển của công nghệ.

Thứ nhất, chuyển giao công nghệ theo mục tiêu thu hồi giá trị trực tiếp, áp dụng đối với các công nghệ đã hoàn thiện, đã được kiểm chứng, có thị trường và khả năng thương mại hóa rõ ràng.

Đối với nhóm công nghệ này, việc chuyển giao cần thực hiện trên cơ sở định giá công nghệ theo cơ chế thị trường, bảo đảm thu hồi kinh phí cho đơn vị chủ trì và Nhà nước thông qua các hình thức chuyển giao có thu tiền, nhượng quyền khai thác hoặc hợp đồng thương mại hóa.

Cách tiếp cận này góp phần nâng cao kỷ luật tài chính, khuyến khích nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường và tăng hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.

Thứ hai, chuyển giao công nghệ theo mục tiêu lan tỏa và phát triển bền vững, áp dụng đối với các công nghệ mới, công nghệ nền tảng, công nghệ nguồn hoặc công nghệ phục vụ phát triển ngành, vùng và lĩnh vực ưu tiên.

Đối với nhóm công nghệ này, cho phép áp dụng các hình thức chuyển giao linh hoạt như: Chuyển giao với giá ưu đãi, góp vốn bằng công nghệ, chuyển giao có điều kiện hoặc chuyển giao gắn với cam kết đầu tư, sản xuất, tạo việc làm và nâng cao năng lực công nghệ.

Trong trường hợp này, lợi ích của Nhà nước không thu hồi trực tiếp ngay bằng tiền, mà được thu hồi gián tiếp và bền vững thông qua tăng trưởng sản xuất-kinh doanh, mở rộng thị trường, tạo việc làm, tăng thu ngân sách và nâng cao năng lực công nghệ quốc gia.

Với vai trò là nơi tạo ra tri thức và công nghệ, các trường đại học, viện nghiên cứu đang đứng trước yêu cầu ngày càng lớn trong việc đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Đại diện Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, cần ban hành quy trình cho phép các đại học, viện nghiên cứu thí điểm các mô hình kinh doanh đối với tài sản trí tuệ công. Giải pháp này nhằm tháo gỡ các rào cản hành chính thông thường, tạo không gian pháp lý an toàn để nhà khoa học khơi thông dòng chảy tri thức ra thị trường.

Một rào cản lớn hiện nay là doanh nghiệp sẵn sàng đối ứng bằng máy móc, nhân công, hạ tầng, nhưng các trường đại học không có thẩm quyền và chức năng để xác nhận giá trị quy đổi ra tiền của các khoản này.

Do đó, các bộ, ngành cần sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về định giá phần đóng góp này để hợp thức hóa vốn đối ứng trong các nhiệm vụ hợp tác công-tư.

Song song đó, Nhà nước cần tiếp tục giữ vai trò chia sẻ rủi ro trong quá trình thương mại hóa công nghệ chiến lược, thông qua các cơ chế như quỹ đồng đầu tư, bảo lãnh công nghệ, hỗ trợ thử nghiệm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, nhất là ở giai đoạn đầu của chuỗi phát triển công nghệ.

Việc đánh giá kết quả nghiên cứu không chỉ dựa trên số lượng sáng chế hay hợp đồng chuyển giao, mà cần xem xét mức độ làm chủ công nghệ, khả năng lan tỏa, tác động kinh tế-xã hội và đóng góp vào năng lực tự chủ công nghệ quốc gia trong trung và dài hạn.

Nhà nước cần tiên phong đặt hàng và sử dụng các sản phẩm đổi mới sáng tạo để tạo lập thị trường mồi, giúp doanh nghiệp hoàn thiện sản phẩm trước khi mở rộng thị trường.

Có thể bạn quan tâm

Đại diện Ban tổ chức tham quan khu vực tranh tài của các thí sinh tại Vòng chung kết Hội thi Tin học trẻ thành phố Hà Nội lần thứ 31.

Robot tuần tra, phần mềm học lịch sử VR xuất hiện ở Hội thi Tin học trẻ thành phố Hà Nội

Là hoạt động thường niên dành cho thanh thiếu nhi Thủ đô do Đoàn Thanh niên, Hội đồng Đội phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tổ chức, Hội thi Tin học trẻ thành phố Hà Nội đã bước sang lần tổ chức thứ 31. Năm nay, vòng chung kết Hội thi diễn ra ngày 17/5 theo hình thức tập trung với nhiều sản phẩm đầy sáng tạo.

Mục tiêu của Chiến lược nhằm xây dựng hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam hiện đại, mở, hài hòa tiêu chuẩn quốc tế, đóng vai trò là hạ tầng thể chế mềm của quốc gia. (Ảnh minh họa)

Phê duyệt Chiến lược tiêu chuẩn quốc gia giai đoạn 2026-2035

Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2035, phấn đấu 60% số tiêu chuẩn Việt Nam được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thực tiễn của thị trường trọng điểm; 30% tiêu chuẩn Việt Nam mới được xây dựng trong giai đoạn phục vụ các lĩnh vực công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ chiến lược, kinh tế số, kinh tế xanh và phát triển bền vững.

Các diễn giả trao đổi tại phiên đối thoại trong khuôn khổ diễn đàn. (Ảnh: HNV)

Khẳng định vai trò trung tâm của Đại học trong hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia

Ngày 15/5, Mạng lưới Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp Đại học, Cao đẳng Việt Nam (VNEI), Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông phối hợp tổ chức Diễn đàn Quốc gia VNEI 2026 với chủ đề: “Vai trò của Đại học trong Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo và hợp tác quốc tế”.

(Ảnh minh họa: Tân hoa xã)

Anh điều tra hệ sinh thái phần mềm doanh nghiệp của Microsoft

Ngày 14/5, Cơ quan Cạnh tranh và thị trường Anh (CMA) thông báo mở cuộc điều tra nhằm xác định liệu Microsoft có nắm giữ “vị thế thị trường chiến lược” (SMS) trong lĩnh vực phần mềm doanh nghiệp hay không, đồng thời xem xét khả năng tập đoàn công nghệ này có thể hạn chế cạnh tranh và quyền lựa chọn của khách hàng.

Thiết bị flycam đang thực hiện chuyến bay tuần tra trên không, giúp lực lượng chức năng luồn lách và giám sát chặt chẽ các mảng rừng tràm có mật độ cây dày đặc.

Cà Mau ứng dụng công nghệ tham gia canh lửa mùa khô

Thay vì chỉ dựa vào sức người tuần tra như phương thức truyền thống, Cà Mau đã chủ động thiết lập một mạng lưới giám sát hiện đại với sự kết hợp giữa hệ thống camera (mắt thần) và thiết bị bay không người lái (flycam) tích hợp cảm biến nhiệt.

Một góc nông trại Chapor Farm, thôn Ma Ty, xã Bác Ái Tây, tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa kiến tạo thương hiệu cho nông sản sạch

Giữa cái nắng gay gắt của vùng bán sơn địa phía nam tỉnh Khánh Hòa, những luống dưa lưới xanh mướt trong nhà màng ở thôn Ma Ty, xã Bác Ái Tây vẫn sinh trưởng tốt. Không còn cảnh canh tác phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết, giờ đây từng giọt nước, từng dưỡng chất đều được điều tiết tự động bằng hệ thống công nghệ hiện đại. 

Một góc Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu nhìn từ trên cao.

Cà Mau gỡ vướng cho Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Chiều 13/5, đoàn công tác của đồng chí Nguyễn Hồ Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh có chuyến khảo sát thực tế nhằm đánh giá toàn diện, tháo gỡ những “nút thắt” để sớm phát huy công năng của Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu.