Nông nghiệp Việt Nam hướng tới xanh, số và bền vững. (Ảnh: HNV)
Nông nghiệp Việt Nam hướng tới xanh, số và bền vững. (Ảnh: HNV)

Nông nghiệp Việt Nam chủ động kiến tạo thị trường theo mô hình tăng trưởng xanh, giảm phát thải

Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước một yêu cầu mang tính bước ngoặt: phải chuyển từ tư duy tăng trưởng theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ mở rộng xuất khẩu sang nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thành tựu xuất khẩu nông lâm thủy sản năm 2025 đạt 70,09 tỷ USD, đưa nông sản Việt Nam tới hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, là nền tảng rất quan trọng nhưng chưa phải đích đến cuối cùng.

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế gay gắt hơn, các xung đột toàn cầu phức tạp hơn, tiêu chuẩn xanh khắt khe hơn và các cơ chế như điều chỉnh carbon qua biên giới đang hình thành áp lực mới, phát triển thị trường và thương hiệu nông sản Việt Nam phải trở thành một nhiệm vụ chiến lược ở tầm quốc gia. Mục tiêu 100 tỷ USD vào năm 2030 chỉ có thể đạt được khi nông nghiệp Việt Nam chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên chất lượng, thương hiệu, chuyển đổi số và năng lực thích ứng chủ động.

Xuất khẩu là nền tảng, nâng tầm vị thế là mục tiêu chiến lược

Trong gần bốn thập niên đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã khẳng định vai trò là trụ đỡ quan trọng của nền kinh tế quốc dân, nhất là trong những giai đoạn khó khăn, bất định và biến động mạnh của kinh tế thế giới. Từ một nền sản xuất chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước, thiếu đói triền miên, nông nghiệp Việt Nam đã từng bước hội nhập sâu vào thương mại toàn cầu, hình thành nhiều ngành hàng xuất khẩu có chỗ đứng rõ nét và tạo dựng được uy tín ngày càng cao trên thị trường quốc tế.

Dù chịu tác động rất mạnh từ biến động của các thị trường xuất khẩu chủ lực, nhất là những thay đổi về chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ, nhưng năm 2025 đánh dấu một cột mốc rất đáng chú ý khi tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước.

Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục mở rộng theo hướng đa dạng ngành hàng, trong đó nông sản đạt 37,25 tỷ USD, thủy sản 11,32 tỷ USD, lâm sản 18,5 tỷ USD; nhiều mặt hàng như cà-phê, rau quả, hạt điều, hồ tiêu, gỗ và sản phẩm gỗ… tiếp tục duy trì quy mô lớn hoặc tăng trưởng mạnh cả về số lượng và giá bình quân. Hàng hóa nông lâm thủy sản Việt Nam hiện diện rộng tại hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ, với các thị trường chủ lực là châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…), châu Mỹ và châu Âu.

kket.jpg
Ký kết hợp tác xúc tiến thương mại nông nghiệp trên nền tảng TikTok.

Những con số này không chỉ phản ánh thành tựu vượt bậc về thương mại. Quan trọng hơn, đó là minh chứng cho năng lực tổ chức sản xuất, năng lực thích ứng thị trường, khả năng điều hành và sức chống chịu của ngành nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh thế giới tiếp tục chịu tác động từ xung đột địa chính trị, phân mảnh chuỗi cung ứng, chi phí logistics, rủi ro tài chính-tiền tệ và xu hướng gia tăng bảo hộ kỹ thuật trong thương mại quốc tế. Đạt được mức xuất khẩu hơn 70 tỷ USD trong điều kiện như vậy là kết quả của nỗ lực tổng hợp từ Nhà nước, doanh nghiệp, địa phương, hợp tác xã và người nông dân.

Chia sẻ cùng phóng viên Báo Nhân Dân, ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, nhìn ở tầm chiến lược, cần khẳng định rõ rằng thành tựu về kim ngạch chưa đồng nghĩa với vị thế tương xứng trong chuỗi giá trị toàn cầu. Một bộ phận không nhỏ nông sản Việt Nam vẫn đang tham gia thị trường ở phân khúc giá trị gia tăng chưa cao; sự tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu mới chủ yếu dựa vào sự gia tăng về số lượng; thương hiệu quốc gia và thương hiệu ngành hàng chưa thật sự mạnh; khả năng chi phối giá, chi phối thị trường, chi phối phân phối đầu cuối còn hạn chế.

“Nói cách khác, chúng ta đã đi được một chặng đường dài về quy mô xuất khẩu, nhưng chặng đường về thương hiệu, tiêu chuẩn và quyền lực thị trường vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Đây chính là điểm mấu chốt của giai đoạn phát triển mới. Nếu trước đây mục tiêu ưu tiên là mở cửa thị trường, tăng nhanh sản lượng và kim ngạch, thì nay mục tiêu cao hơn phải là nâng tầm vị thế nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu”, ông Tiến cho hay.

Chúng ta đã đi được một chặng đường dài về quy mô xuất khẩu, nhưng chặng đường về thương hiệu, tiêu chuẩn và quyền lực thị trường vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Đây chính là điểm mấu chốt của giai đoạn phát triển mới. Nếu trước đây mục tiêu ưu tiên là mở cửa thị trường, tăng nhanh sản lượng và kim ngạch, thì nay mục tiêu cao hơn phải là nâng tầm vị thế nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại nông nghiệp Nguyễn Minh Tiến.

Theo ông Tiến, phát triển thị trường không còn được hiểu đơn thuần là “bán được hàng” và có lợi nhuận, mà phải là giữ được thị phần bền vững, mở rộng được hiện diện ở phân khúc giá trị cao, xây dựng được nhận diện thương hiệu rõ ràng và từng bước gia tăng quyền định giá cho sản phẩm nông sản Việt Nam.

Từ yêu cầu đó, tư duy phát triển nông nghiệp bắt buộc phải chuyển từ “sản xuất cái mình có” sang “tổ chức chuỗi giá trị theo cái thị trường cần”; từ “xuất khẩu hàng hóa” sang “xuất khẩu giá trị” với sự tích hợp đa giá trị; từ “đi theo thị trường” sang “chủ động tái cấu trúc để dẫn kịp và tiến tới đồng kiến tạo tiêu chuẩn thị trường”. Đây không chỉ là thay đổi về cách làm, mà là thay đổi về tư duy phát triển, về năng lực tổ chức chuỗi giá trị và về tầm vóc hội nhập của nông nghiệp Việt Nam.

Nâng tầm thương hiệu nông sản Việt bằng chuỗi giá trị xanh, số và minh bạch

Trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay, thương hiệu không còn được quyết định chỉ bởi bao bì đẹp hay khẩu hiệu truyền thông hấp dẫn. Thương hiệu hiện đại được hình thành từ chất lượng thực, tiêu chuẩn thực, dữ liệu thực và trách nhiệm thực của cả chuỗi sản xuất-cung ứng. Đối với nông sản, điều đó có nghĩa là một sản phẩm muốn được tin cậy lâu dài phải chứng minh được xuất xứ rõ ràng, quy trình sản xuất an toàn, khả năng truy xuất đầy đủ, mức độ thân thiện môi trường và sự ổn định của chất lượng qua thời gian.

nnvn-thitruong.png
Ứng dụng công nghệ, sản xuất xanh, giảm phát thải, đáp ứng tiêu chí chất lượng đối với các thị trường khó tính trong khu vực và thế giới là yêu cầu với nông sản Việt hiện nay.

Theo đà đó, kinh tế xanh phải trở thành một trụ cột trung tâm trong chiến lược phát triển thị trường nông sản Việt Nam. Xu thế tiêu dùng bền vững, yêu cầu giảm phát thải, chuẩn ESG, kinh tế tuần hoàn và trách nhiệm môi trường đang tái định hình luật chơi của thương mại toàn cầu. Sản phẩm không còn chỉ được đánh giá bằng chất lượng cảm quan hay giá bán, mà còn bằng dấu chân môi trường, mức phát thải carbon, tính bền vững của chuỗi cung ứng và khả năng đáp ứng các chuẩn mực quốc tế mới.

Cùng với kinh tế xanh, chuyển đổi số là trụ cột thứ hai để xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam trong thời đại mới. Trong thương mại hiện đại, dữ liệu chính là hạ tầng của niềm tin. Không có dữ liệu chuẩn hóa, không thể truy xuất chuẩn hóa. Không có truy xuất minh bạch, rất khó bước sâu vào các hệ thống phân phối hiện đại và các phân khúc đòi hỏi tiêu chuẩn cao.

Việc Việt Nam đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc và ra mắt hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản cuối năm 2025 (trước mắt với các sản phẩm xuất khẩu lớn như sầu riêng) cho thấy chuyển đổi số đang dần đi vào những khâu cốt lõi của chuỗi giá trị, từ vùng trồng, nhật ký canh tác, đóng gói, vận chuyển đến lưu thông và kiểm soát chất lượng. Đây là tiền đề rất quan trọng để nâng độ tin cậy của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Thực tiễn đang đặt ra một yêu cầu rất rõ: thương hiệu nông sản Việt Nam không thể xây dựng trên nền của sản xuất manh mún, thông tin rời rạc, phân mảnh và tiêu chuẩn thiếu đồng đều. Muốn có thương hiệu mạnh, phải có vùng nguyên liệu mạnh; muốn vào được thị trường cao cấp, phải có quy trình đạt chuẩn; muốn tăng giá trị xuất khẩu, phải có chế biến sâu, logistics tốt và dữ liệu minh bạch; muốn phát triển bền vững, phải có mô hình tăng trưởng xanh gắn với giảm phát thải.

anh-5-khu-gian-hang-viet-nam-tai-af-lartigiano-in-fier24.jpg
Gian hàng thương mại Việt Nam tại AF-L'ARTIGIANO IN FIER24.

Một minh chứng rất rõ cho hướng đi đúng của nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới là việc triển khai Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030.

Sau hơn hai năm thực hiện, diện tích tham gia Đề án đã đạt khoảng 354.840ha, tương đương 197% mục tiêu giai đoạn 2024-2025 là 180.000ha; đây là kết quả cho thấy sự vào cuộc rất tích cực của các địa phương, hợp tác xã và doanh nghiệp trong tái tổ chức ngành hàng lúa gạo theo hướng chất lượng cao, giảm phát thải và liên kết chuỗi.

Đáng chú ý, các mô hình thí điểm vụ hè thu 2025 cho thấy hiệu quả bước đầu rất rõ: nông dân giảm 50-65% lượng giống gieo sạ, giảm hơn 31% phân đạm, cắt giảm 1-3 lần phun thuốc, đồng thời quản lý nước hiệu quả hơn và thu gom rơm rạ để tái sử dụng; nhờ đó, giá thành sản xuất giảm, lợi nhuận cao hơn ngoài mô hình từ 4,6 đến 15,8 triệu đồng/ha.

Những kết quả bước đầu này có ý nghĩa rất lớn: không chỉ tạo nền tảng để xây dựng thương hiệu gạo Việt chất lượng cao, phát thải thấp, mà còn khẳng định rằng tăng trưởng xanh trong nông nghiệp không phải là mục tiêu xa vời, mà đã và đang được hiện thực hóa bằng hiệu quả kinh tế cụ thể ngay trên đồng ruộng.

Thành tựu vượt bậc của ngành cà-phê Việt Nam trong hai năm 2024 và 2025 là một minh chứng tiêu biểu cho năng lực chủ động thích ứng để nâng hạng giá trị xuất khẩu.

Năm 2024, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,32 triệu tấn cà-phê, đạt kim ngạch 5,48 tỷ USD, dù khối lượng giảm nhưng giá trị vẫn tăng mạnh nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng cao; sang năm 2025, đà bứt phá tiếp tục được củng cố khi tổng kim ngạch xuất khẩu đã đạt khoảng 8,36 tỷ USD.

Bên cạnh yếu tố giá thị trường thuận lợi, một nguyên nhân rất quan trọng là ngành cà-phê Việt Nam đã nhanh chóng và chủ động thích ứng với cơ chế EUDR của EU thông qua việc sớm chuẩn bị cơ sở dữ liệu rừng và vùng trồng, thúc đẩy truy xuất nguồn gốc, thí điểm giải pháp đáp ứng EUDR từ năm 2024 và ban hành hướng dẫn kỹ thuật cho ngành cà-phê.

Chính sự chuẩn bị sớm này không chỉ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro khi tiếp cận thị trường EU - một thị trường đặc biệt quan trọng đối với cà-phê Việt Nam - mà còn tạo động lực để toàn chuỗi chuyển mạnh sang mô hình sản xuất minh bạch hơn, bền vững hơn và có giá trị gia tăng cao hơn.

Bên cạnh đó, vấn đề điều chỉnh carbon qua biên giới của EU (CBAM) là một tín hiệu cảnh báo rất rõ về hướng dịch chuyển của thương mại toàn cầu. Ủy ban châu Âu xác nhận giai đoạn chuyển tiếp của CBAM diễn ra từ ngày 1/10/2023 đến hết năm 2025; cơ chế này bước vào chế độ chính thức từ năm 2026, và phía EU đã thông báo CBAM chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.

Dù trước mắt CBAM áp dụng cho một số nhóm ngành nhất định, thông điệp chính sách là rất rõ: hàng hóa muốn đi xa hơn vào các thị trường phát triển sẽ ngày càng phải chứng minh được mức độ phát thải, mức độ tuân thủ và trách nhiệm môi trường của mình.

Đối với nông nghiệp Việt Nam, điều này đòi hỏi phải đi trước một bước trong xây dựng hệ thống theo dõi, báo cáo và giảm phát thải cho toàn chuỗi sản xuất-chế biến-phân phối.

Nói cách khác, cạnh tranh trong giai đoạn tới sẽ không còn là cạnh tranh đơn thuần giữa sản phẩm với sản phẩm, mà là cạnh tranh giữa chuỗi giá trị với chuỗi giá trị. Quốc gia nào tổ chức được chuỗi minh bạch hơn, xanh hơn, hiệu quả hơn và số hóa tốt hơn, quốc gia đó sẽ có lợi thế lớn hơn trong việc định hình thị trường và chiếm lĩnh niềm tin người tiêu dùng. Một khi chuỗi giá trị chưa xanh hơn, chưa số hóa sâu hơn và chưa minh bạch hơn, thương hiệu nông sản Việt Nam khó có thể bước lên nấc thang giá trị cao hơn trên thị trường quốc tế.

Có thể bạn quan tâm

Diễn đàn Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh 2026. (Ảnh: KIM DUNG)

Đổi mới sáng tạo để nâng tầm thương hiệu Việt

Đổi mới sáng tạo, năng lực công nghệ và giá trị thương hiệu có mối quan hệ hữu cơ, tạo thành nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là nội dung được các chuyên gia nhấn mạnh tại Diễn đàn Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh 2026, tổ chức ngày 23/9 tại Hà Nội.

Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Nai làm việc với ngành tài chính thành phố chiều 23/9. (Ảnh: THIÊN VƯƠNG)

Lấy kết quả cuối cùng làm thước đo năng lực hành động

Trong nỗ lực đi tìm câu trả lời cho câu hỏi Đồng Nai sau khi trở thành thành phố thì người dân được hưởng lợi ích gì, doanh nghiệp được phục vụ tốt hơn không, Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Nai làm việc với các sở, ngành, bằng tư duy đổi mới vượt ra khỏi giới hạn của một nhiệm kỳ, chuẩn bị nguồn lực vững chắc cho thành phố bứt phá.

EVNNPT và các đơn vị tích cực tuyên truyền người dân không thả diều gần hành lang an toàn lưới điện. (Ảnh: EVNNPT cung cấp)

Cảnh báo nguy cơ mất an toàn từ vi phạm hành lang lưới điện truyền tải

Từ đầu năm 2026 đến nay, lưới điện truyền tải đã xảy ra 8 sự cố liên quan các vi phạm hành lang an toàn lưới điện. Các sự cố tưởng bình thường như: thả diều, sử dụng thiết bị thi công, vận chuyển vật liệu bằng UAV... nếu không bảo đảm an toàn đều có thể gây sự cố, ảnh hưởng đến vận hành lưới điện và đe dọa tính mạng con người.

Việc đưa NSRP vào vận hành đã tạo ra bước chuyển trong cán cân cung ứng năng lượng quốc gia. (Ảnh: NSRP)

Từ biến động toàn cầu đến nguồn cung trong nước: Năng lực lọc dầu và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia

Bảo đảm an ninh năng lượng là nhiệm vụ trọng yếu đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị xác định yêu cầu xây dựng hệ thống năng lượng chủ động, linh hoạt, đa dạng và có khả năng chống chịu trước các tác động bên ngoài.

Ảnh minh họa.

Chứng khoán ngày 23/9: Cổ phiếu bất động sản chịu áp lực, VN-Index lùi về sát mốc 1.800 điểm

Phiên giao dịch ngày 23/9, thị trường chứng khoán Việt Nam chịu áp lực bán trở lại sau phiên hồi phục ngày 22/9, đưa VN-Index giảm 15,28 điểm về 1.801,65 điểm. VIC, VHM cùng nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn gây sức ép lên chỉ số, trong khi nhóm ngân hàng, bán lẻ và một số cổ phiếu riêng lẻ vẫn duy trì sắc xanh.

Tăng cường giám sát việc sử dụng nhà thầu phụ nhằm bảo đảm tiến độ và chất lượng dự án. (Ảnh: MP)

Nâng trách nhiệm trong quản lý, sử dụng nhà thầu phụ

Trong bối cảnh một số dự án còn chậm tiến độ, chất lượng thực hiện hợp đồng chưa bảo đảm và tình trạng chuyển nhượng thầu trái quy định vẫn diễn biến phức tạp, Bộ Tài chính yêu cầu tăng cường kiểm tra việc sử dụng nhà thầu phụ, làm rõ chủ thể trực tiếp thực hiện từng phần công việc và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Đoàn công tác Bộ Tài chính tiếp xúc với các định chế tài chính, nhà đầu tư tại Hoa Kỳ. (Ảnh: Bộ Tài chính)

Tăng cường kết nối với cộng đồng nhà đầu tư quốc tế tại Hoa Kỳ

Trong khuôn khổ các hoạt động bên lề chuyến công tác dự Kỳ họp Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và hoạt động song phương tại Hoa Kỳ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bộ Tài chính đã chủ trì, phối hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có buổi làm việc với các nhà đầu tư quốc tế.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc Amina Mohammed và các đại biểu chụp ảnh lưu niệm. (Ảnh: TTXVN)

Việt Nam tiếp nhận 3 văn kiện Chương trình hợp tác quốc gia giai đoạn 2027-2030 trị giá 221,2 triệu USD

Việt Nam vừa tiếp nhận ba Chương trình hợp tác quốc gia giai đoạn 2027-2030 với tổng nguồn lực dự kiến khoảng 221,2 triệu USD, trong đó Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) khoảng 115,5 triệu USD, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) 85 triệu USD và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) 20,7 triệu USD.

Nghị quyết số 16 của Tỉnh ủy Cà Mau mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Đột phá ở miền cực nam Tổ quốc

Tỉnh Cà Mau vừa phát động phong trào thi đua bê-tông hóa giao thông nông thôn giai đoạn 2026-2030. Đây là bước đi cụ thể hóa Nghị quyết số 16 vừa ban hành của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau, thể hiện quyết tâm bứt phá toàn diện vùng cực nam Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Đóng gói dừa xuất khẩu tại doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. (Ảnh: MINH ANH)

Xuất khẩu rau quả hướng tới mục tiêu 10 tỷ USD

Xuất khẩu rau quả của Việt Nam đang khởi sắc khi kim ngạch 8 tháng đạt hơn 5,8 tỷ USD, tiến gần hơn đến mục tiêu 10 tỷ USD trong năm 2026. Để tăng tốc giai đoạn cuối năm, bên cạnh bảo đảm nguồn cung, chất lượng và thị trường, thì việc đáp ứng các điều kiện, thủ tục xuất khẩu đóng vai trò quyết định.

Những cánh đồng điện gió tại Quảng Trị được khai thác góp phần hỗ trợ bảo đảm nguồn cung năng lượng. (Ảnh THẾ ĐẠI)

Cơ hội phát triển chuỗi công nghiệp từ điện gió ngoài khơi

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đề ra định hướng chiến lược: Phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới; trong đó, mục tiêu đến năm 2030, công suất điện gió ngoài khơi đạt từ 6 đến 10GW.