Tìm giải pháp cho một bộ sách giáo khoa thống nhất

Việc tổ chức một bộ sách giáo khoa thống nhất tiếp tục là chủ đề nhận được sự quan tâm lớn của dư luận, giới chuyên gia và các nhà quản lý giáo dục.

Học sinh Trường Tiểu học Lam Vỹ (tỉnh Thái Nguyên) trong giờ học.
Học sinh Trường Tiểu học Lam Vỹ (tỉnh Thái Nguyên) trong giờ học.

Trước những phản ánh về nguy cơ lãng phí có thể xảy ra, áp lực lựa chọn của giáo viên, cũng như gánh nặng chi phí đối với phụ huynh, nhiều ý kiến cho rằng đã đến lúc cần xem xét nghiêm túc phương án xây dựng một bộ sách giáo khoa chung, bảo đảm tính ổn định, khoa học và phù hợp năng lực dạy và học trên cả nước.

Lợi ích của một bộ sách

Từ khi chủ trương xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa được triển khai, hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam hiện có nhiều bộ sách do nhiều đơn vị xuất bản khác nhau đảm trách. Điều này tạo nên sự đa dạng, nhưng đồng thời cũng kéo theo những hạn chế đáng kể.

Tại nhiều địa phương, giáo viên lúng túng trong việc lựa chọn, phải tốn nhiều thời gian nghiên cứu, đối chiếu để tìm ra bộ sách phù hợp với khả năng học sinh. Ngoài ra, việc tồn tại nhiều bộ sách giáo khoa khiến công tác dạy học giữa các địa phương thiếu thống nhất. Một giáo viên từ tỉnh này chuyển công tác sang tỉnh khác đôi khi gặp khó khăn vì phải làm quen lại toàn bộ chương trình và chuẩn kiến thức theo bộ sách mới.

Sách giáo khoa là người bạn thân thiết, đồng hành tin cậy của các em học sinh.

Sách giáo khoa là người bạn thân thiết, đồng hành tin cậy của các em học sinh.

Giới chuyên gia nhận định, việc xây dựng một bộ sách giáo khoa thống nhất không đồng nghĩa với việc phủ nhận quyền tự chủ hay sự sáng tạo trong giáo dục. Ngược lại, một bộ sách chuẩn sẽ tạo ra nền tảng chung, ổn định, bảo đảm các yêu cầu cốt lõi về kiến thức và kỹ năng mà học sinh trên cả nước cần đạt.

Một bộ sách thống nhất sẽ giúp giảm gánh nặng chi phí, hạn chế tình trạng thương mại hóa trong biên soạn, đồng thời tạo sự đồng bộ trong kiểm tra-đánh giá. Giáo viên thuận lợi trong soạn bài giảng, học sinh được tiếp cận nội dung cân đối, phù hợp hơn với thực tế phát triển tâm sinh lý.

Đặc biệt, với bối cảnh chương trình giáo dục phổ thông mới đòi hỏi tính liên thông chặt chẽ giữa các cấp học, một bộ sách giáo khoa thống nhất sẽ giúp quá trình điều chỉnh, cập nhật kiến thức được tiến hành đồng bộ và hiệu quả hơn.

Trăn trở vấn đề này, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Thành phố Hải Phòng) cho rằng, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao xây dựng một bộ sách giáo khoa thống nhất toàn quốc là vấn đề dư luận đặc biệt quan tâm vì liên quan đến chi phí, chất lượng và nguy cơ độc quyền. “Tôi cho rằng quan điểm chỉ đạo hiện nay của Quốc hội và Chính phủ là rất đúng: không quay trở lại cơ chế độc quyền sách giáo khoa như trước đây, nhưng cũng không thể để tình trạng quá nhiều bộ sách gây lãng phí và bất cập cho giáo viên, học sinh”, bà Nga nhấn mạnh.

Giải pháp nào khả thi?

Trả lời câu hỏi của phóng viên Báo Nhân Dân về phương án nào là khả thi và tiết kiệm, vị đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng đề xuất:

Thứ nhất, bộ sách giáo khoa thống nhất nên theo hướng “chọn lọc” từ những bộ sách giáo khoa đang sử dụng hiệu quả. Thay vì biên soạn mới hoàn toàn (điều này rất tốn kém), Bộ Giáo dục và Đào tạo nên tổ chức đánh giá độc lập tất cả các bộ sách giáo khoa hiện hành; lựa chọn những cuốn tốt nhất của từng bộ để hình thành một bộ sách giáo khoa chuẩn quốc gia; điều chỉnh lại cho thống nhất cấu trúc, khung kiến thức, chuẩn đầu ra. Cách làm này vừa tiết kiệm thời gian và ngân sách, vừa tận dụng trí tuệ của nhiều nhóm tác giả đã được kiểm nghiệm thực tiễn.

Thứ hai, vẫn duy trì cơ chế có nhiều bộ sách giáo khoa nhưng có một bộ chuẩn để các nhà trường chủ động hơn, những bộ còn lại đóng vai trò là sách tham khảo.

Thứ ba, phải đặt ra hàng loạt yêu cầu để tránh tái lập độc quyền.

Nếu để Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn mà không có cơ chế giám sát chặt chẽ, rất dễ quay trở lại mô hình cũ. Vì vậy cần bảo đảm: Hội đồng thẩm định độc lập, có chuyên gia nước ngoài; công khai minh bạch toàn bộ quy trình lựa chọn, thẩm định, giá sách; tách bạch “quản lý nhà nước” và “tổ chức biên soạn”; giá sách giáo khoa của bộ thống nhất phải do Nhà nước định giá, tránh đội chi phí.

Bà Nguyễn Thị Việt Nga khẳng định: “Điểm quan trọng nhất là bộ sách giáo khoa thống nhất phải thực sự vì học sinh, không vì lợi ích nhóm hay thuận tiện quản lý”.

Chia sẻ về giải pháp xây dựng một bộ sách giáo khoa sách giáo khoa thống nhất, đáp ứng yêu cầu áp dụng ngay từ năm học 2026-2027 tới đây, thầy giáo Lý Văn Điền, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Yên Trạch (Thái Nguyên) đề xuất, không nên chỉ lựa chọn duy nhất một bộ sách giáo khoa trong 3 bộ sách đang triển khai từ năm học 2020-2021 đến nay, để tránh tình trạng độc quyền và không tận dụng được tinh túy của các bộ sách khác. Thông qua nhiều năm thực tế dạy và học, sử dụng nhiều bộ sách giáo khoa theo từng môn học cho thấy mỗi bộ sách giáo khoa hiện hành đều có nhiều ưu điểm và đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu, nội dung, phương pháp, các bộ sách giáo khoa cũng đã được thẩm định lựa chọn ở mỗi cấp học, có tính khoa học, hiệu quả đào tạo cao, các thầy cô được tập huấn đầy đủ.

“Nếu chọn từ ba bộ sách giáo khoa này thì việc chọn mỗi bộ áp dụng cho mỗi cấp học là phương án hợp lý, có thể ứng dụng ngay và tiết kiệm chi phí”, thầy Điền cho biết.

Đồng quan điểm trên, một số giáo viên còn chia sẻ băn khoăn, rằng nếu phương án biên soạn lại một bộ sách mới, có lẽ sẽ không kịp bảo đảm tiến độ áp dụng ngay cho năm học tới. Còn nếu lấy nguyên một bộ sách nào đó mà bỏ các bộ kia thì rất lãng phí cả chất xám lẫn tâm sức của Hội đồng biên soạn và thiếu công bằng cho những bộ sách không được chọn, vì hiện tại, những bộ sách đang dùng đều có ưu điểm riêng.

thloc.jpg
Thầy trò Trường tiểu học Tô Hiến Thành, phường Vĩnh Tuy, Hà Nội trong một tiết học.

Cô Đặng Ngọc Trâm, Hiệu trưởng Trường trung học phổ thông Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) khẳng định, các giáo viên trong trường khi được hỏi ý kiến đều thống nhất, mỗi cấp học nên chọn từ một trong ba bộ sách hiện hành, như thế vừa bảo đảm chất lượng, tiến độ và không gây xáo trộn vùng miền, không phải tập huấn lại giáo viên.

Nói về khó khăn, nhiều ý kiến cho rằng, nếu tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa mới thì sẽ bảo đảm tính thống nhất về nội dung. Nhưng để biên soạn một bộ sách mới trong 12 lớp, phải cần khoảng 4-5 năm (biên soạn, biên tập, dạy thử nghiệm, thẩm định, xin ý kiến góp ý của giáo viên, chuyên gia và tập huấn giáo viên…). Trong khi đó, bộ sách chung phải được sử dụng vào năm học tới, thì rất khó khả thi. Nếu vậy chỉ có cách nhanh nhất là chọn theo bài của từng bộ sách riêng lẻ, sau đó lắp ghép thành một môn học xuyên suốt. Nếu lựa chọn trọn vẹn một trong 3 bộ sách hiện có, quả thực là khó khăn. Cả ba bộ sách đều được thẩm định, phê duyệt và đã được sử dụng rộng rãi ở các mức độ khác nhau, chọn như vậy sẽ không bảo đảm tính công bằng cho các bộ sách kia.

Cũng có ý kiến khác, đề xuất mô hình kết hợp: Nhà nước chủ trì biên soạn một bộ sách giáo khoa chuẩn, dựa trên hội đồng thẩm định nghiêm ngặt, đồng thời cho phép nhiều tài liệu bổ trợ, học liệu mở để giáo viên có thể linh hoạt triển khai trong thực tế. Cách làm này vừa bảo đảm được nền tảng tri thức chung, vừa tạo không gian sáng tạo cho người dạy.

Bên cạnh đó, một lộ trình chuyển đổi hợp lý là cần thiết: rà soát kỹ các bộ sách hiện hành, tiếp thu điểm mạnh, khắc phục hạn chế; tăng cường lấy ý kiến giáo viên, nhà khoa học trước khi ban hành. Trong dài hạn, việc ứng dụng công nghệ sẽ giúp quản lý, cập nhật sách giáo khoa dễ dàng hơn thông qua các phiên bản số hóa, giảm chi phí in ấn và bảo đảm sự tiếp cận đồng đều giữa các vùng miền.

Tóm lại, trong bối cảnh giáo dục phổ thông đang tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, một bộ sách giáo khoa thống nhất được xem là giải pháp mang tính ổn định cao, đáp ứng yêu cầu công bằng, chất lượng và hiệu quả. Tuy nhiên, để thực hiện thành công cần sự chuẩn bị kỹ lưỡng, khoa học và sự đồng thuận từ giáo viên, phụ huynh đến nhà quản lý.

Có thể bạn quan tâm

Các học viên lớp xóa mù chữ ở bản Làng Sáng (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Quản lý bằng dữ liệu với giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ, bảo đảm quyền học tập của người dân

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng quy định về điều kiện bảo đảm, quy trình kiểm tra công nhận đạt chuẩn giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ với quan điểm xuyên suốt là bảo đảm quyền học tập của người dân, quản lý dựa trên dữ liệu, nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện, duy trì kết quả giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.

Ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác giáo dục giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

24 biên bản hợp tác được trao tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số

Trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, 24 biên bản ghi nhớ (MOU) giữa các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam với các đối tác quốc tế đã được ký kết. Nội dung hợp tác tập trung vào đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực, giáo dục nghề nghiệp.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: NH)

Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực sức khỏe

Sáng 9/10, tại Hà Nội, Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tổ chức khai mạc Hội nghị Khoa học sức khỏe với chủ đề “Chăm sóc sức khỏe toàn diện trong kỷ nguyên số”. Hội nghị diễn ra trong hai ngày 9 và 10/10 với 59 báo cáo khoa học thuộc các lĩnh vực y khoa, răng-hàm-mặt, dược và điều dưỡng.

Sinh viên Học viện Ngân hàng trao đổi, thảo luận trong giờ học. (Ảnh: HVNH)

Gắn đào tạo đại học với nhu cầu doanh nghiệp

Nhiều cơ sở giáo dục đại học đang đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào đào tạo, từ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đến thực hành, nghiên cứu. Qua đó, liên kết Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp từng bước đi vào thực chất, gắn đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo với nhu cầu thị trường.

Các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục, mở rộng quan hệ giữa với các cơ sở đại học, tổ chức giáo dục quốc tế. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Các cơ sở giáo dục tích cực kết nối, mở rộng hợp tác, học hỏi kinh nghiệm quốc tế

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số mở ra không gian kết nối các doanh nghiệp công nghệ, cơ sở đại học, tổ chức giáo dục, các đơn vị phát triển giải pháp. Nhiều hoạt động ký kết, hợp tác đã được thực hiện, góp phần mở rộng mạng lưới hợp tác giữa các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp trong nước với đối tác quốc tế.

Phiên hội thảo chuyên đề Giáo dục phổ thông. (Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Giá trị của AI phải được chứng minh bằng kết quả học tập

AI đang thay đổi cách dạy học và vận hành nhà trường, nhưng số hóa nhiều hơn chưa đồng nghĩa học sinh học tốt hơn. Tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, ngày 8-9/10 tại Hà Nội, các chuyên gia nhấn mạnh giá trị của AI cần được kiểm chứng qua sự tiến bộ về kiến thức, tư duy và năng lực tự học của học sinh.

Quang cảnh tọa đàm chuyên gia “Định hình chân dung nhân tài thời đại 4.0” diễn ra chiều 8/10, trong khuôn khổ IECEE 2026. (Ảnh: BUV)

Trí tuệ nhân tạo làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng đối với sinh viên mới tốt nghiệp

Không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên môn, doanh nghiệp ngày càng chú trọng khả năng ứng dụng công nghệ, giải quyết vấn đề, quản lý thời gian, giao tiếp và thích ứng của sinh viên mới tốt nghiệp. Đáng chú ý, trí tuệ nhân tạo (AI) đang bắt đầu làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng ở nhiều vị trí việc làm.

Hội thảo quy tụ nhiều học giả, chuyên gia, nhà nghiên cứu và học viên cao học, nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế. (Ảnh: FTU)

Hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo sau đại học chuẩn quốc tế

Ngày 8/10, tại Hà Nội, Trường đại học Ngoại thương tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế dành cho người học sau đại học (ICGE 2026) với chủ đề "Tái định hình hợp tác trong một thế giới phân mảnh: Bằng chứng từ các doanh nghiệp, thị trường và chính sách".

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số sáng khai mạc sáng 8/10. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Giáo dục trong kỷ nguyên số: Hợp tác để làm chủ công nghệ, phát triển con người

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số tạo diễn đàn thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục; mở rộng quan hệ giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và các tổ chức giáo dục quốc tế; chia sẻ mô hình, phương pháp và công nghệ đổi mới sáng tạo trong giảng dạy, học tập và quản trị.

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Tuần lễ học tập suốt đời năm 2026, sáng 8/10, Ngày hội khoa học và công nghệ cho học sinh phổ thông phường Vĩnh Hưng (Hà Nội) đã được tổ chức tại Trường tiểu học và THCS Vĩnh Hưng với sự tham gia của gần 1.000 học sinh.

Hình ảnh cuộc thi “Tìm hiểu Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám” dành cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Giáo dục di sản văn hóa ở trường học

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt chỉ tiêu: Đến năm 2030, 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chúc mừng và tặng quà lưu niệm cho Hội Khuyến học Việt Nam.

Xây dựng xã hội học tập từ năng lực thực của mỗi người dân

Sau 5 năm triển khai các chương trình về học tập suốt đời và xây dựng mô hình “Công dân học tập”, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt, vượt mục tiêu đề ra. Giai đoạn 2026-2030, trọng tâm được chuyển mạnh sang chất lượng thực của việc học, để mỗi người dân có cơ hội học, khả năng học và động lực học suốt đời.