Giá trị của AI phải được chứng minh bằng kết quả học tập

AI đang thay đổi cách dạy học và vận hành nhà trường, nhưng số hóa nhiều hơn chưa đồng nghĩa học sinh học tốt hơn. Tại Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số, ngày 8-9/10 tại Hà Nội, các chuyên gia nhấn mạnh giá trị của AI cần được kiểm chứng qua sự tiến bộ về kiến thức, tư duy và năng lực tự học của học sinh.

Phiên hội thảo chuyên đề Giáo dục phổ thông. (Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Phiên hội thảo chuyên đề Giáo dục phổ thông. (Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Công cụ tốt hơn chưa chắc học sinh học tốt hơn

Tại các phiên chuyên đề về chuyển đổi số, hội nhập quốc tế trong giáo dục phổ thông và sáng kiến liên minh toàn cầu cho trẻ em, các chuyên gia tập trung thảo luận về tác động của công nghệ đối với hoạt động dạy và học.

Trình bày về các sáng kiến giáo dục AI tại Việt Nam, Giáo sư Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách giáo dục, phân biệt hai phương diện của chuyển đổi số trong nhà trường: Nâng cao hiệu quả quản trị và cải thiện chất lượng dạy học. Theo ông, công nghệ có thể giúp giáo viên chuẩn bị giáo án, xử lý dữ liệu nhanh hơn, nhưng chưa bảo đảm học sinh học tốt hơn.

img-3536.jpg
Quang cảnh tại phiên chuyên đề, hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số. (Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Nếu hiệu suất công việc được đo bằng thời gian và kết quả hoàn thành nhiệm vụ, thì học tập còn đòi hỏi quá trình tự tìm hiểu, suy nghĩ, thực hành và hình thành kiến thức. Khi AI có thể tạo ra bài viết, bài thuyết trình hoặc sản phẩm học tập trong thời gian ngắn, giáo viên khó đánh giá đúng năng lực học sinh nếu chỉ căn cứ vào sản phẩm cuối cùng. Phương pháp giảng dạy và kiểm tra, đánh giá vì thế cần được điều chỉnh phù hợp.

Kết quả khảo sát trực tuyến sau thí điểm giáo dục AI được giới thiệu tại hội nghị cho thấy, trong số học sinh tham gia, 90,5% học sinh trung học cơ sở và 97,6% học sinh trung học phổ thông đã sử dụng công cụ AI. Tuy nhiên, tương ứng 35% và 36,7% cho biết gặp khó khăn khi đánh giá tính chính xác, độ tin cậy của thông tin do AI cung cấp.

Dù chưa phải số liệu đại diện cho toàn bộ học sinh cả nước, kết quả khảo sát phản ánh sự chênh lệch đáng chú ý giữa mức độ sử dụng công nghệ và khả năng kiểm chứng thông tin của nhóm học sinh tham gia.

img-1479.jpg
Giáo sư Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách giáo dục trình bày tham luận tại phiên chuyên đề. (Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Theo Giáo sư Lê Anh Vinh, sau quá trình nghiên cứu, xây dựng khung năng lực và thí điểm, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có định hướng triển khai giáo dục AI trong trường phổ thông từ năm học 2026-2027. Nội dung giáo dục tập trung giúp học sinh hiểu về công nghệ, nhận biết rủi ro và sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm, phù hợp từng lứa tuổi. Với học sinh nhỏ tuổi, trang bị hiểu biết và kỹ năng an toàn cần được ưu tiên trước việc sử dụng các công cụ AI phức tạp.

Từ số hóa quản trị đến thay đổi hoạt động dạy học

Tại Trường trung học cơ sở-trung học phổ thông Newton, chuyển đổi số được triển khai từ năm 2023, bắt đầu bằng một năm thí điểm mô hình lớp học thông minh. Sau giai đoạn này, nhà trường phát triển mô hình trường học thông minh và hiện tiếp tục xây dựng trường học số.

Chia sẻ kinh nghiệm triển khai, bà Hoàng Thị Mận, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết ba nội dung được ưu tiên gồm xây dựng hệ thống quản trị thống nhất, đổi mới kiểm tra đánh giá và phát triển năng lực số của đội ngũ giáo viên, nhân viên.

Ở khâu quản trị, nhà trường hướng tới việc tích hợp dữ liệu học sinh, kết quả học tập, hoạt động bán trú, suất ăn, đưa đón và những công việc thường xuyên trên một hệ thống chung. Việc giảm sự phân tán giữa nhiều phần mềm giúp giáo viên thuận tiện hơn khi xử lý công việc hành chính, đồng thời có thêm thời gian dành cho chuyên môn.

Đáng chú ý hơn là việc đưa kiểm tra, đánh giá thường xuyên vào từng tiết học 45 phút. Theo bà Mận, sau mỗi phần kiến thức, học sinh có thể thực hiện bài kiểm tra nhanh trên thiết bị. Giáo viên sử dụng kết quả để nhận biết mức độ tiếp thu, xác định những nội dung học sinh còn gặp khó khăn và điều chỉnh hoạt động dạy học tiếp theo.

Bên cạnh các bài kiểm tra trong giờ học, nhà trường tổ chức đánh giá hằng tuần, hằng tháng trên máy tính, với khoảng 1.000 học sinh có thể tham gia đồng thời trong mỗi đợt. Kết quả được số hóa, tạo điều kiện để giáo viên theo dõi quá trình học tập thường xuyên hơn, thay vì chỉ dựa vào một số thời điểm kiểm tra định kỳ.

Một kinh nghiệm khác được bà Mận nhấn mạnh là việc phát triển năng lực số đồng đều trong đội ngũ. Theo bà, nếu ứng dụng công nghệ chỉ phụ thuộc vào một số giáo viên tiên phong, chuyển đổi số dễ tập trung ở những tiết dạy minh họa, dự giờ. Nhà trường vì thế chú trọng bồi dưỡng để giáo viên, nhân viên có thể sử dụng công nghệ trong công việc hằng ngày, từ chuẩn bị bài giảng đến tổ chức hoạt động học tập và đánh giá học sinh.

Cách triển khai tại Newton cho thấy việc sử dụng dữ liệu kiểm tra, đánh giá có thể hỗ trợ giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy học ngay trong từng tiết học. Tuy nhiên, những thuận lợi về tổ chức và quản lý cần tiếp tục được đối chiếu với kết quả học tập của học sinh để xác định đầy đủ hiệu quả của chuyển đổi số.

Hiệu quả giáo dục cần có bằng chứng

Từ kinh nghiệm quốc tế, bà Tara O'Connell, Trưởng ban Giáo dục, UNICEF Việt Nam đề cập thực trạng nhiều giải pháp công nghệ giáo dục được phát triển và đầu tư trong những năm qua, song bằng chứng về tác động đối với kết quả học tập chưa phải lúc nào cũng tương xứng với kỳ vọng.

Theo bà Tara O'Connell, việc trang bị thêm thiết bị hoặc đưa vào sử dụng những nền tảng mới cần đi cùng đánh giá về mức độ phù hợp với người học, điều kiện triển khai và hiệu quả giáo dục. Những sản phẩm công nghệ được giới thiệu có nhiều tính năng chưa đương nhiên là những công cụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của giáo viên và học sinh.

img-5676.jpg
Tọa đàm Cùng nhau xây dựng tương lai: Quan hệ đối tác quốc tế về chuyển đổi số cho mọi trẻ em. (Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

UNICEF đang phát triển các tiêu chí và phương pháp đánh giá giải pháp công nghệ giáo dục dựa trên bằng chứng, hỗ trợ cơ quan quản lý và nhà trường lựa chọn công cụ phù hợp. Cùng với chất lượng sản phẩm, năng lực sử dụng của giáo viên và khả năng đáp ứng những điều kiện học tập khác nhau của trẻ em cũng được coi trọng.

Đối với AI, những yêu cầu này càng cần được chú ý khi công nghệ có khả năng tạo ra nội dung, hỗ trợ giải quyết bài tập và thực hiện nhiều thao tác vốn do người học đảm nhiệm. Việc sử dụng công cụ cần được tổ chức phù hợp để học sinh vẫn có cơ hội suy nghĩ, thực hành, tự đánh giá và phát triển năng lực của mình.

Bên cạnh kết quả học tập, bà Tara O'Connell nhấn mạnh nguyên tắc lấy trẻ em làm trung tâm trong phát triển giáo dục số. Bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn trực tuyến, khả năng tiếp cận công bằng và sự giám sát của con người cần được tính đến trong quá trình thiết kế, lựa chọn và triển khai công nghệ.

Sự tham gia của giáo viên, cha mẹ và học sinh cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận diện nhu cầu, những rủi ro có thể phát sinh và điều chỉnh cách sử dụng công nghệ phù hợp với từng môi trường giáo dục.

Từ những kết quả khảo sát được công bố, kinh nghiệm triển khai tại nhà trường và các khuyến nghị quốc tế, việc ứng dụng AI trong giáo dục đang được xem xét ngày càng cụ thể hơn ở cấp độ lớp học. Những tiện ích về quản trị, tốc độ xử lý công việc hay khả năng tạo ra sản phẩm học tập cần được đánh giá cùng với sự tiến bộ về kiến thức, tư duy và năng lực tự học của học sinh. Đó cũng là cơ sở để xác định giá trị lâu dài của AI đối với giáo dục.

Có thể bạn quan tâm

Sinh viên Học viện Ngân hàng trao đổi, thảo luận trong giờ học. (Ảnh: HVNH)

Gắn đào tạo đại học với nhu cầu doanh nghiệp

Nhiều cơ sở giáo dục đại học đang đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào đào tạo, từ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đến thực hành, nghiên cứu. Qua đó, liên kết Nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp từng bước đi vào thực chất, gắn đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo với nhu cầu thị trường.

Các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục, mở rộng quan hệ giữa với các cơ sở đại học, tổ chức giáo dục quốc tế. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Các cơ sở giáo dục tích cực kết nối, mở rộng hợp tác, học hỏi kinh nghiệm quốc tế

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số mở ra không gian kết nối các doanh nghiệp công nghệ, cơ sở đại học, tổ chức giáo dục, các đơn vị phát triển giải pháp. Nhiều hoạt động ký kết, hợp tác đã được thực hiện, góp phần mở rộng mạng lưới hợp tác giữa các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp trong nước với đối tác quốc tế.

Quang cảnh tọa đàm chuyên gia “Định hình chân dung nhân tài thời đại 4.0” diễn ra chiều 8/10, trong khuôn khổ IECEE 2026. (Ảnh: BUV)

Trí tuệ nhân tạo làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng đối với sinh viên mới tốt nghiệp

Không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên môn, doanh nghiệp ngày càng chú trọng khả năng ứng dụng công nghệ, giải quyết vấn đề, quản lý thời gian, giao tiếp và thích ứng của sinh viên mới tốt nghiệp. Đáng chú ý, trí tuệ nhân tạo (AI) đang bắt đầu làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng ở nhiều vị trí việc làm.

Hội thảo quy tụ nhiều học giả, chuyên gia, nhà nghiên cứu và học viên cao học, nghiên cứu sinh trong nước và quốc tế. (Ảnh: FTU)

Hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo sau đại học chuẩn quốc tế

Ngày 8/10, tại Hà Nội, Trường đại học Ngoại thương tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế dành cho người học sau đại học (ICGE 2026) với chủ đề "Tái định hình hợp tác trong một thế giới phân mảnh: Bằng chứng từ các doanh nghiệp, thị trường và chính sách".

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số sáng khai mạc sáng 8/10. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Giáo dục trong kỷ nguyên số: Hợp tác để làm chủ công nghệ, phát triển con người

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số tạo diễn đàn thúc đẩy hợp tác quốc tế và hội nhập giáo dục; mở rộng quan hệ giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam và các tổ chức giáo dục quốc tế; chia sẻ mô hình, phương pháp và công nghệ đổi mới sáng tạo trong giảng dạy, học tập và quản trị.

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và AI trong trường học

Hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Tuần lễ học tập suốt đời năm 2026, sáng 8/10, Ngày hội khoa học và công nghệ cho học sinh phổ thông phường Vĩnh Hưng (Hà Nội) đã được tổ chức tại Trường tiểu học và THCS Vĩnh Hưng với sự tham gia của gần 1.000 học sinh.

Hình ảnh cuộc thi “Tìm hiểu Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu-Quốc Tử Giám” dành cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Giáo dục di sản văn hóa ở trường học

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt chỉ tiêu: Đến năm 2030, 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu chúc mừng và tặng quà lưu niệm cho Hội Khuyến học Việt Nam.

Xây dựng xã hội học tập từ năng lực thực của mỗi người dân

Sau 5 năm triển khai các chương trình về học tập suốt đời và xây dựng mô hình “Công dân học tập”, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt, vượt mục tiêu đề ra. Giai đoạn 2026-2030, trọng tâm được chuyển mạnh sang chất lượng thực của việc học, để mỗi người dân có cơ hội học, khả năng học và động lực học suốt đời.

Trao giấy Chứng nhận cho các thí sinh tham gia kỳ thi. (Ảnh: CTV)

Vĩnh Long: Gần 2.000 thí sinh tham gia cuộc thi chọn học sinh giỏi Giải toán trên máy tính cầm tay

Sáng 7/10, cuộc thi chọn học sinh giỏi Giải toán trên máy tính cầm tay năm học 2026-2027 chính thức được tổ chức đồng loạt tại 3 điểm thi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long gồm: Trường trung học phổ thông Bến Tre, Trường trung học phổ thông chuyên Nguyễn Thiện Thành và Trường trung học phổ thông Lưu Văn Liệt.

(Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Đổi mới quy định về tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục quốc phòng và an ninh

Nội dung Giáo dục quốc phòng và an ninh dự kiến được lồng ghép ở bậc tiểu học, trung học cơ sở; là môn học chính khóa ở trường trung học phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học; đồng thời là nội dung cơ bản, quan trọng trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Bách khoa Hà Nội. (Ảnh: NGUYỄN ĐĂNG)

Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn xác định nhóm 30% điểm cao nhất để xét hưởng học bổng Chính phủ

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành hướng dẫn cụ thể cách xác định người học thuộc diện hưởng học bổng đối với người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026 của Chính phủ, triển khai thống nhất trên cả nước.