Thúc đẩy hội nhập, tăng năng lực cạnh tranh của cơ sở giáo dục đại học

Nâng cao năng lực tiếng Anh trong giáo dục đại học góp phần xây dựng môi trường học thuật hiện đại, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục đại học.

Sinh viên Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội học tập trong môi trường sử dụng tiếng Anh với giảng viên nước ngoài. (Ảnh: MINH CHI)
Sinh viên Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội học tập trong môi trường sử dụng tiếng Anh với giảng viên nước ngoài. (Ảnh: MINH CHI)

Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định lộ trình, mục tiêu và giải pháp để từng bước hiện thực hóa định hướng này.

Gắn chiến lược tự chủ với mục tiêu nâng cao vị thế

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Hữu, Trưởng ban Quản lý Đề án Ngoại ngữ Quốc gia (Bộ Giáo dục và Đào tạo), việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học cần được thiết kế theo hướng phân tầng mục tiêu, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và phù hợp với sự đa dạng của hệ thống cơ sở đào tạo.

Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định mục tiêu: giai đoạn 2025-2030, ít nhất 20% cơ sở giáo dục đại học trên cả nước (trừ các cơ sở sử dụng ngoại ngữ khác tiếng Anh trong đào tạo) đạt mức độ 1; 5% đạt mức độ 2 và 3% đạt mức độ 3.

Đến năm 2045, có ít nhất 50% cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 2 và 25% đạt mức độ 3. Để đạt được mục tiêu đề ra, đề án cũng đưa ra các lựa chọn cách tiếp cận linh hoạt.

Đối với nhóm đại học nghiên cứu và các trường trọng điểm, định hướng là từng bước hình thành hệ sinh thái đào tạo song ngữ, mở rộng các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh (EMI), nhất là trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế và quản trị.

Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045” đã xác định mục tiêu: giai đoạn 2025-2030, ít nhất 20% cơ sở giáo dục đại học trên cả nước (trừ các cơ sở sử dụng ngoại ngữ khác tiếng Anh trong đào tạo) đạt mức độ 1; 5% đạt mức độ 2 và 3% đạt mức độ 3.

Trong khi đó, đối với nhóm các trường đại học ứng dụng và định hướng thực hành, thay vì triển khai đại trà mô hình EMI, đề án khuyến khích tích hợp tiếng Anh vào các học phần chuyên ngành thông qua sử dụng tài liệu học thuật bằng tiếng Anh; tổ chức một phần nội dung giảng dạy, thảo luận hoặc đánh giá bằng tiếng Anh, đồng thời phát triển các học phần tiếng Anh chuyên ngành phù hợp với từng lĩnh vực đào tạo.

Quá trình triển khai đề án, các trường cần gắn với chiến lược tự chủ đại học và mục tiêu nâng cao vị thế của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế.

Cách tiếp cận phân tầng giúp các cơ sở giáo dục đại học triển khai đề án phù hợp với điều kiện, năng lực và định hướng phát triển, từng bước mở rộng môi trường sử dụng tiếng Anh trong đào tạo và nghiên cứu.

Tăng cường kết nối với môi trường học thuật quốc tế

Với khung chính sách mà đề án tạo ra, thực tiễn triển khai tại các cơ sở đào tạo cho thấy, quá trình hiện thực hóa mục tiêu đang được thực hiện theo nhiều giải pháp khác nhau, từ phát triển chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, xây dựng môi trường học thuật quốc tế đến ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong dạy và học.

Từ kinh nghiệm triển khai chương trình đào tạo liên kết quốc tế Cử nhân ngành Kinh tế-Tài chính (Hoa Kỳ) tại Trường đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Tiến sĩ Lê Thùy Anh (Khoa Đào tạo và Bồi dưỡng Ngoại ngữ) cho rằng các chương trình đào tạo liên kết quốc tế góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời tạo môi trường học thuật quốc tế, giúp sinh viên tiếp cận tri thức hiện đại và phương pháp học tập tiên tiến.

Theo Tiến sĩ Lê Thùy Anh, các chương trình này được thiết kế theo chuẩn của các trường đại học nước ngoài, với nội dung đào tạo cập nhật, phương pháp giảng dạy hiện đại và sử dụng tiếng Anh trong học tập, nghiên cứu. Điều này đòi hỏi tăng cường ứng dụng các giải pháp công nghệ giáo dục nhằm hỗ trợ giảng dạy, quản lý đào tạo và nâng cao hiệu quả học tập.

Tại Trường đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, các nền tảng học tập trực tuyến, học liệu số và công cụ hỗ trợ bằng trí tuệ nhân tạo đang được khai thác nhằm tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận nguồn học liệu phong phú, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu và kết nối với môi trường học thuật quốc tế.

Ở góc độ cơ sở đào tạo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Thu Hương, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, năng lực ngoại ngữ chuyên sâu là tiêu chí quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Việc dạy và học bằng tiếng Anh giúp sinh viên tiếp cận trực tiếp giáo trình, tài liệu và các kết quả nghiên cứu mới nhất trên thế giới, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh việc làm tại các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp đa quốc gia cũng như các cơ sở nghiên cứu và đào tạo ở nước ngoài.

Nhà trường đặt mục tiêu đến năm 2030 có 30% học phần được giảng dạy bằng tiếng Anh, nâng lên 50% vào năm 2045; từng bước hình thành hệ sinh thái sử dụng tiếng Anh và phát triển các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh.

8-thuc-dayjpg-1.jpg
Chương trình đào tạo sinh viên ngành công nghệ thông tin bằng tiếng Anh tại Trường đại học Công nghiệp Hà Nội. (Ảnh: NGỌC ANH)

Các trường đại học khối kỹ thuật cũng xác định nâng cao năng lực tiếng Anh là một yêu cầu chiến lược gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế.

Theo đại diện Đại học Bách khoa Hà Nội, việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, phát triển đại học nghiên cứu và chuyển đổi số.

Đối với các cơ sở giáo dục đại học kỹ thuật và công nghệ, tiếng Anh là công cụ quan trọng giúp người học tiếp cận tri thức mới, tham gia mạng lưới học thuật toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Việc tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học là một quá trình lâu dài, cần sự vào cuộc đồng bộ từ cơ quan quản lý đến các cơ sở đào tạo.

Giảng dạy chuyên môn bằng tiếng Anh được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm mở rộng môi trường học thuật quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh của sinh viên thông qua quá trình học tập chuyên ngành.

Hiện Đại học Bách khoa Hà Nội triển khai 16 chương trình Elitech giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh; 2 chương trình liên kết quốc tế bằng tiếng Anh ở bậc đại học và 8 chương trình thạc sĩ Elitech giảng dạy bằng tiếng Anh.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, quá trình triển khai đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học vẫn đối mặt nhiều khó khăn như chất lượng đội ngũ giảng viên chưa đồng đều, chương trình học còn nặng tính lý thuyết, môi trường thực hành và các chương trình trao đổi quốc tế còn hạn chế; cơ sở vật chất, học liệu số và nền tảng trực tuyến chưa đáp ứng đồng đều yêu cầu.

Bên cạnh đó, mức độ chuyển đổi số trong dạy học tiếng Anh giữa các cơ sở giáo dục đại học còn có sự chênh lệch, đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về đội ngũ, công nghệ, học liệu và môi trường thực hành.

Việc tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học là một quá trình lâu dài, cần sự vào cuộc đồng bộ từ cơ quan quản lý đến các cơ sở đào tạo.

Với lộ trình, mục tiêu và những mô hình triển khai bước đầu, việc tăng cường sử dụng tiếng Anh trong đào tạo, nghiên cứu và hợp tác quốc tế sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học, thúc đẩy hội nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Trong giờ học tại Trường trung học phổ thông Việt Đức (Hà Nội). (Ảnh minh họa: ĐẠI THẮNG)

Phát huy nguồn lực trí tuệ của nhà giáo sau khi nghỉ hưu

Lần đầu việc sử dụng nhà giáo sau khi nghỉ hưu chính thức được quy định trong khuôn khổ pháp lý thống nhất, tạo cơ sở để các cơ sở giáo dục tiếp tục khai thác, phát huy nguồn lực trí tuệ của đội ngũ nhà giáo khi vẫn còn đủ điều kiện và có nguyện vọng tiếp tục cống hiến.

Giáo viên tại điểm trường Suối Hai, Trường tiểu học Cam Phước Đông 1, phường Ba Ngòi, tỉnh Khánh Hòa giúp các em học sinh dân tộc Raglai rèn chữ viết trên lớp học hè. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Giữ con chữ cho trẻ em dân tộc Raglai

Trước cái nắng bỏng rát của những ngày tháng 7 ở tổ dân phố Giải Phóng, phường Ba Ngòi (tỉnh Khánh Hòa), trong khi nhiều đứa trẻ theo cha mẹ lên nương rẫy hay mải mê với những trò chơi mùa hè, tại điểm trường Suối Hai vẫn có gần 50 học sinh dân tộc Raglai đều đặn cắp sách đến lớp mỗi sáng.

Đến nay, Dự án Trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở Na Ngoi có 4 trong tổng số 16 dãy nhà chính được hoàn thành, còn lại 12 hạng mục đang triển khai hoàn thiện.

Nghệ An quyết tâm đưa các hạng mục ưu tiên của trường phổ thông nội trú liên cấp vào sử dụng trước ngày 30/8

Ngày 25/7, thông tin từ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An cho biết, khối lượng thi công giai đoạn 1 các trường phổ thông nội trú liên cấp hiện đạt từ 55% đến 65% tổng giá trị hợp đồng. Riêng dự án ở xã Nhôn Mai tiến độ thi công chậm khoảng 1 tháng do phải điều chỉnh phương án thiết kế vì sạt lở ta-luy mặt bằng.

Thí sinh tham dự Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 tại điểm thi Trường THPT Trần Phú (Hoàn Kiếm, Hà Nội) (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong giáo dục

Hội nghị Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo năm 2026 tổ chức trong hai ngày 23 và 24/7 tại Phú Thọ trong bối cảnh toàn ngành đang đứng trước yêu cầu tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo.

Trường mầm non Trương Vương, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên thuộc diện sắp xếp, sáp nhập.

Thái Nguyên sớm ổn định việc sáp nhập trường học

Chủ trương sáp nhập trường học đang nhận được sự quan tâm lớn của dư luận xã hội, phụ huynh, học sinh, giáo viên, cán bộ lãnh đạo các trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Việc sáp nhập trường học cần được triển khai khẩn trương, gắn với sàng lọc đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để chuẩn bị cho năm học mới một cách tốt nhất.

Câu lạc bộ Hiến máu nhân đạo.

Nơi thanh xuân được viết bằng những trang rực rỡ

Với nhiều thế hệ sinh viên Trường đại học Luật (Đại học Huế), các câu lạc bộ, đội, nhóm không đơn thuần là nơi tham gia các hoạt động ngoại khóa. Đó là nơi họ viết thanh xuân của mình bằng kỷ niệm và những trải nghiệm đáng nhớ, bằng sự trưởng thành và những ước mơ đang từng ngày được chắp cánh.

Cô và trò Trường tiểu học Suối Hoa, phường Kinh Bắc.

Bắc Ninh giảm tối thiểu 30 đến 50% đầu mối quản lý trường học sau sắp xếp

Ngày 22/7, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh Lê Xuân Lợi đã ký ban hành công văn số 7913/UBND-NC về sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Bắc Ninh sẽ giảm từ 30 đến 50% đầu mối quản lý trường học so thời điểm 1/7/2025.

[Video] Quảng Trị: Điều tra mở rộng vụ tiêu cực thi tốt nghiệp THPT

[Video] Quảng Trị: Điều tra mở rộng vụ tiêu cực thi tốt nghiệp THPT

Ngay sau khi phát hiện sai phạm tại điểm thi Trường Trung học phổ thông (THPT) Lê Trực, xã Tuyên Hóa (Quảng Trị), tỉnh Quảng Trị triển khai tổng rà soát công tác tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026 trên địa bàn, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm nhằm bảo đảm tính nghiêm minh, công bằng của kỳ thi.

Thí sinh trong mùa thi năm 2026 (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Cần lộ trình xây dựng hệ thống thi nhân văn, công bằng và phù hợp với mục tiêu phát triển năng lực

Một hệ thống thi nhân văn, công bằng và phù hợp với mục tiêu phát triển năng lực sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của giáo dục Việt Nam. Muốn thành công, các giải pháp phải được triển khai đồng bộ, hình thành một “hệ sinh thái chuyển đổi thi” với lộ trình rõ ràng, khả thi và dễ thực hiện.

Cha mẹ học sinh làm thủ tục và tìm hiểu thông tin tuyển sinh tại một cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở Hà Nội.

Thí điểm mô hình trung học nghề năm học 2026-2027

Ngay trước thềm năm học 2026-2027, Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến triển khai thí điểm tuyển sinh hệ trung học nghề tại một số cơ sở đủ điều kiện. Lần đầu tiên sau nhiều năm, học sinh sau lớp 9 có thêm lựa chọn được thiết kế để vừa học văn hóa, vừa học nghề và vẫn có thể học lên bậc cao hơn.

Trẻ em vùng cao. (Ảnh minh họa: ĐĂNG KHOA)

Mở rộng chính sách ưu tiên, hỗ trợ người học dân tộc thiểu số rất ít người

Chính sách ưu tiên tuyển sinh, hỗ trợ học tập đối với người học dân tộc thiểu số rất ít người đang được Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng nhằm hướng đến tạo điều kiện để người học thuộc các dân tộc thiểu số rất ít người được tiếp cận giáo dục đầy đủ, liên tục và bình đẳng ở tất cả các cấp học, mở rộng tới nhiều đối tượng.