Thơm mãi khoai lang hầm

Tôi đang ngồi thơ thẩn trên chiếc ghế đá trước giờ vào lớp học. Chợt thấy cô bé học trò mâm mê món ăn gì đó lạ lẫm bọc trong lá chuối tạo hình chiếc phễu. Tò mò đến gần, nhận ra món khoai lang hầm thuở ấy…

Ảnh: SONG ANH
Ảnh: SONG ANH

Sau nhà tôi là những cánh đồng. Đến mùa thu hoạch, nhà nào nhà nấy rợp một mầu hồng thẫm khoai là khoai. Khoai nằm la liệt từ đầu cổng đến giữa sân, phơi mình dưới ánh nắng vàng ươm. Khoai nằm ngổn ngang hai bên hông nhà không còn lối đi. Khoai trải dài vất vưởng sau chái bếp cũ kỹ của mẹ.

Quê tôi nghèo lắm. Thời tiết không thuận lợi. Nắng, mưa thất thường. Có mùa nắng cháy, đất đai rạn nứt, cằn cỗi. Có mùa, mưa triền miên từ sáng sớm đến tận chiều tối. Cha mẹ thường để dành số lượng khoai lang xấu thương lái mua giá thấp. Mấy củ khoai lang gãy đôi trong lúc đào được mẹ cắt thành lát vừa phải, không quá mỏng cũng không quá dày phơi trên mấy cái nia ngoài hiên. Phơi khoai, chẳng đòi hỏi phải kỳ công như phơi cá hay loại thực phẩm khác. Mỗi trưa đi làm về, mẹ dùng tay trộn qua trộn lại cho khoai lang khô đều và ráo nước. Khoai lang được phơi nhiều ngày, phải thật khô để khi trữ không mốc. Khoai lang phơi đúng độ nắng, có mầu trắng đục pha lẫn mấy chúm đen bé li ti. Sau đó, mẹ gói cẩn thận từng bọc vào giấy báo cũ và bỏ vào bồ lúa góc cạnh nhà.

Mỗi sáng, khi trăng chưa tàn, ba, mẹ cặm cụi dậy nấu món khoai lang hầm. Mẹ lấy một lượng khoai khô vừa phải đủ cho cả nhà ăn, rửa thật kỹ với nước cho bay lớp bụi bẩn bên ngoài và ngâm khoảng hai mươi phút. Trong lúc ấy, ba nhóm bếp bắt nước pha trà. Tích tắc, đốm xanh nhen nhóm trong làn khói trắng lơ lửng trên gian nhà tranh rồi bừng sáng căn bếp. Mẹ đổ nước xâm xấp mặt khoai rồi bắt lên bếp lửa đang hừng hực cháy. Ngồi cạnh bên, ba nhâm nhi tách trà trong màn sương lành lạnh của buổi đầu ngày. Mấy câu chuyện, không đầu, không đuôi, không hồi kết cũng bắt đầu từ đó giữa cặp vợ chồng quanh năm một nắng hai sương.

Chẳng bao lâu, nồi khoai sôi ùng ục dưới ánh lửa bập bùng. Muốn món khoai lang hầm ngon, bở có độ mềm nhừ và sánh vừa phải, người nấu phải có kinh nghiệm. Với đôi bàn tay thoăn thoắt, khéo léo, mẹ dùng cặp đũa tre lớn xới đều cho khoai tơi ra. Nước hòa quyện vào khoai tạo nên độ sền sệt vừa phải. Mồ hôi mẹ nhễ nhại trên vạt áo cũ mầu. Sau đó, mẹ nhấc nồi khoai nóng hổi khỏi bếp và giã đều tay. Công đoạn giã khoai rất quan trọng. Khoai sau khi giã không mịn như cháo mà có độ nhuyễn, dẻo vừa phải, vón thành cục. Mẹ bắt nồi khoai ngược lại bếp và cho từng cục đường tán tròn nhỏ, mầu nâu cánh gián vào trộn đều tay. Khoai lang trộn với đường có mầu đen nhạt. Từng cây củi trong miệng lò được mẹ rút ra nhanh chóng. Nồi khoai lang hầm được nằm trên miệng bếp hòa quyện với mùi khói thơm lừng lẫn trong vị ngọt của khoai, của đường làm kích thích vị giác của mấy đứa háo ăn như chị em tôi.

Mỗi sáng đến trường, lũ trẻ vùng quê như tôi đa phần đều ăn khoai lang hầm. Trước giờ vào lớp, chẳng ai bảo ai, mỗi nhóm ngồi tụm năm, tụm bảy nhâm nhi món ăn mẹ nấu. Chẳng mấy chốc, chỉ còn lại chiếc muỗng thanh tre hình chữ nhật và gói lá chuối xanh um hờ hững trên tay. Thương mẹ, thương cha ngày đêm gồng gánh lo cho từng bữa ăn lành, no bụng để biết đến con chữ. Ấy thế mà vui, nụ cười giòn tan vào tận cửa lớp.

Có thể bạn quan tâm

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.