Thách thức với nông nghiệp hữu cơ

Những sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đang trở nên phổ biến khi ngày càng nhiều mô hình sản xuất được nhân rộng. Tuy nhiên, không phải lúc nào người tiêu dùng cũng mua được đúng sản phẩm hữu cơ như mình mong muốn.
Người dân lựa chọn rau củ quả hữu cơ được giới thiệu tại hội chợ nông sản an toàn. Ảnh: NAM ANH
Người dân lựa chọn rau củ quả hữu cơ được giới thiệu tại hội chợ nông sản an toàn. Ảnh: NAM ANH

Hiện nay, rất nhiều người tiêu dùng có nhu cầu và điều kiện để tiếp cận với các sản phẩm hữu cơ vốn có giá thành khá cao, nhưng kiến thức về sản phẩm như thế nào gọi là hữu cơ thì vẫn còn hạn chế. Phần đông đều lựa chọn sản phẩm dựa trên bao bì, nhãn hiệu.

Chính vì vậy, đã có không ít nhầm lẫn giữa các khái niệm na ná như hướng hữu cơ, sinh thái, tự nhiên, eco… Thực tế này đã được nhiều chuyên gia chỉ ra là do những bất cập trong công tác quản lý sản xuất, phân phối sản phẩm hữu cơ trên thị trường.

Tiêu chuẩn rõ nhưng khái niệm còn mập mờ

Nông nghiệp hữu cơ là một khái niệm không mới tại Việt Nam, liên quan đến phương thức sản xuất không sử dụng hóa chất trong mọi công đoạn. 10 năm trở lại đây, nông nghiệp hữu cơ phát triển tại hầu hết các tỉnh, thành phố cả nước, trên cơ sở nhiều chính sách hỗ trợ, thông tư hướng dẫn… Đặc biệt là Nghị định số 109/2018/NĐ-CP ban hành ngày 29/8/2018 của Chính phủ, quy định chi tiết về hoạt động sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh, ghi nhãn và quảng cáo sản phẩm nông nghiệp hữu cơ…

Như nhiều người tiêu dùng, chị Phạm Hoàng Quyên (Cầu Giấy, Hà Nội) thường lựa chọn một số cửa hàng và siêu thị lớn để mua thực phẩm hữu cơ, đặc biệt là các loại rau củ quả với mong muốn bảo vệ sức khỏe của gia đình. Chị cho biết, nếu nhìn bằng cảm quan thông thường, rất khó phân biệt một sản phẩm hữu cơ có điểm gì khác so với những sản phẩm bình thường. Chính vì vậy, việc lựa chọn phụ thuộc hoàn toàn vào nhãn hiệu, bao bì sản phẩm.

“Giá thành sản phẩm hữu cơ thường cao hơn từ 20-30%, thậm chí có sản phẩm cao hơn tới 50% so với sản phẩm sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP hay sản xuất thông thường. Nhưng vì nghĩ đây là những sản phẩm tốt hơn cho sức khỏe, nên mình đặt trọn niềm tin vào nhà sản xuất và các đơn vị phân phối như siêu thị, cửa hàng”, chị Quyên chia sẻ.

Theo quy trình, một sản phẩm được công nhận hữu cơ là phải tuân thủ các tiêu chuẩn của Việt Nam (TCVN) hoặc tiêu chuẩn của tổ chức đã được chấp nhận ở nước ta. Theo bà Nguyễn Thị Minh Lý, chuyên gia về tiêu chuẩn chất lượng, có 2 loại nhãn cho sản phẩm hữu cơ. Một là nhãn chứng nhận do Nhà nước ban hành cho những sản phẩm tuân thủ tiêu chuẩn của Việt Nam với logo TCVN và có số hiệu của đơn vị cấp giấy chứng nhận, số hiệu của giấy chứng nhận mà đơn vị đó cấp. Hai là nhãn hữu cơ theo tiêu chuẩn cộng đồng hữu cơ đã được quốc tế công nhận. Ngoài ra, nhiều nhà sản xuất cũng áp dụng các tiêu chuẩn hữu cơ của nước ngoài tại Việt Nam thì khi đánh giá hoặc kiểm soát phải soi chiếu theo tiêu chuẩn của quốc gia đó.

Đối với những sản phẩm đã qua chế biến, có 3 cấp độ ghi khác nhau. Nhà sản xuất có thể ghi là 100% sản phẩm hữu cơ, hoặc hữu cơ (tức là 95% nguyên liệu hữu cơ) và có nguyên liệu hữu cơ (thành phần hơn 70%).

“Để đạt được chứng nhận tiêu chuẩn hữu cơ của Việt Nam, nhà sản xuất phải thông qua sự giám sát và đánh giá của bên thứ ba. Đây là những tổ chức phải được Nhà nước cấp phép thực hiện hoạt động công nhận sản phẩm hữu cơ”, bà Lý cho biết.

Tuy nhiên trên thực tế, theo bà Từ Thị Tuyết Nhung, Ủy viên Thường vụ Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ, vẫn có những đơn vị sản xuất lợi dụng để đưa ra những khái niệm mập mờ, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Một trong những thách thức hiện nay là công tác quản lý sản phẩm hữu cơ.

“Người tiêu dùng luôn băn khoăn là liệu sản phẩm này có thật sự hữu cơ hay không? Họ chưa hiểu thực chất sản phẩm hữu cơ như thế nào? Chẳng hạn, hiện nay còn có thuật ngữ hướng hữu cơ. Mặc dù quá trình sản xuất họ phải tuân thủ các điều kiện tiêu chuẩn đặt ra tại Nghị định 109. Nhưng quá trình chuyển đổi này không thể mập mờ với khái niệm hữu cơ được”, bà Nhung phân tích.

Chuyên gia nông nghiệp hữu cơ này cũng cho rằng, về nguyên tắc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (trước đây là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phải công khai danh sách các tổ chức được cấp phép công nhận sản phẩm hữu cơ.

“Chúng tôi là Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ nhiều khi còn phải làm công văn để có được thông tin về các tổ chức này nhưng vẫn không hề dễ dàng. Trong khi đó, với nhiều tổ chức quốc tế, việc truy xuất thông tin về tổ chức cấp phép, về đơn vị sản xuất hữu cơ đều rất công khai và minh bạch…”, bà Nhung nói.

Có quá nhiều khác biệt giữa sản phẩm hữu cơ với một sản phẩm thông thường, không chỉ ở mức giá mà còn cả về chất lượng. Đặc biệt hơn nữa là niềm tin của người tiêu dùng vào sự trung thực của nhà sản xuất. Với thực tế thị trường hiện nay, người tiêu dùng gần như phải sống chung với cảm giác “nghi ngờ” mỗi ngày.

Trang bị kiến thức

Các chuyên gia cho rằng, một trong những giải pháp để giúp người tiêu dùng nhận diện tốt hơn các sản phẩm hữu cơ chính là việc trau dồi kiến thức, tăng cường khả năng phân biệt các sản phẩm trên thị trường. Từ đó đưa ra được lựa chọn đúng, thúc đẩy thị trường, doanh nghiệp sản xuất minh bạch và có trách nhiệm.

“Có người từng hỏi tôi là sản phẩm OCOP có phải sản phẩm hữu cơ không? Đây là một điển hình cho việc hiểu chưa đúng, chưa đủ về nông sản hữu cơ và nhiều mặt hàng khác. Điều này cho thấy công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng có ý nghĩa hết sức quan trọng”, bà Lý chia sẻ.

Còn theo bà Từ Thị Tuyết Nhung, trên thị trường còn rất phổ biến tình trạng dán nhãn hữu cơ sai quy định, như nhãn dán mờ nhạt, thiếu thông tin đơn vị công nhận… Theo bà, việc thúc đẩy tiêu dùng thông minh đối với sản phẩm hữu cơ cũng nhằm bảo đảm quyền lợi cho các nhà sản xuất chân chính.

“Thay vì sử dụng thuật ngữ hướng hữu cơ, Nhà nước có thể áp dụng thuật ngữ “phương pháp sản xuất tốt” theo hướng hữu cơ như đã từng áp dụng trước đây trong sản xuất VietGAP để áp dụng cho những sản phẩm đang trong quá trình chuyển đổi nhưng chưa đạt tiêu chuẩn hữu cơ. Điều này giúp người tiêu dùng tránh được sự nhầm lẫn và khuyến khích nhà sản xuất nỗ lực đạt tới tiêu chuẩn cao của sản xuất hữu cơ”.

Cũng theo bà Nhung, cần có cơ chế kiểm soát tốt hơn trách nhiệm của đơn vị sản xuất và phân phối trong việc dán nhãn sản phẩm. Đây vốn là một khâu còn yếu khiến thị trường tiêu thụ nông sản hữu cơ chưa thật sự phát triển bền vững và mang lại lợi ích tích cực cho người tiêu dùng. Nông sản nói riêng và nông nghiệp nói chung là thế mạnh Việt Nam. Lợi thế đó có được đẩy mạnh, phát huy hơn nữa hay không phụ thuộc rất nhiều bởi trách nhiệm của cơ quan quản lý lẫn kiến thức của người tiêu dùng.

Theo Quyết định số 885/QĐ-TTg ngày 23/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030, diện tích nhóm đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 2,5-3% tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp. Diện tích đất trồng trọt hữu cơ đạt khoảng hơn 2% tổng diện tích đất trồng trọt. Sản phẩm chăn nuôi hữu cơ đạt khoảng 2-3% tổng sản phẩm chăn nuôi sản xuất trong nước. Diện tích nuôi trồng thủy sản hữu cơ đạt khoảng 1,5-3% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản… Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản hữu cơ cao gấp 1,5-1,8 lần so với sản xuất phi hữu cơ.

Có thể bạn quan tâm

Tính đến nay, đã có 42 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất lại gặp áp lực

Khi tín dụng tăng nhanh còn tiền gửi tăng chậm, áp lực lãi suất bắt đầu quay lại hệ thống ngân hàng. Ở mặt khác, ngân hàng đang chịu áp lực phải bảo đảm mức lãi vay ở mức thấp nhất có thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.

Kỹ sư đang thuyết trình giới thiệu sản phẩm công nghệ. Ảnh: NGUYỆT ANH

Vẫn thiếu người “vẽ bản đồ” công nghệ

Chính phủ đã có động thái thể hiện quyết tâm bứt phá bằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhưng một thực tế đang đặt ra là việc khó tìm kiếm những người “vẽ bản thiết kế” cho các đề tài, dự án lớn.

Số doanh nghiệp thành lập mới tăng cho thấy thể chế đang chuyển động theo hướng thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bồi đắp “sức bền” cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp gia nhập thị trường gia tăng, nhưng áp lực rút lui vẫn lớn. Bồi đắp “sức bền” trở thành yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp trụ lại và phát triển.

Mô hình mới cho F&B nhỏ lẻ

Do tính chất phổ biến và thiết yếu, kinh doanh ăn uống (F&B) luôn là một ngành sôi động dù có phải đối mặt với nhiều thách thức. Nhưng trong thực tế ngành F&B đang có những thay đổi, thách thức vô cùng mạnh mẽ, đặc biệt ở quy mô nhỏ.

Những dự án được đầu tư hạ tầng đồng bộ thường ghi nhận giá trị bất động sản tăng rõ rệt. Ảnh: NAM ANH

“Cơn sốt” kỳ vọng của bất động sản

Liên tiếp các dự án hạ tầng lớn được công bố, giá chào bán bất động sản tại nhiều nơi bị đẩy lên cao. Các chuyên gia cảnh báo, thị trường đang được dẫn dắt bởi kỳ vọng nhiều hơn nền tảng.

Hệ sinh thái 5G Open RAN do Viettel và Qualcomm hợp tác.

Đặt nền móng cho kỷ nguyên kết nối mới

Trong khi mạng 5G vẫn đang trong quá trình triển khai và thương mại hóa, Việt Nam đã bắt đầu chuẩn bị nền tảng 6G. Những bước đi này mở ra cơ hội để tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái công nghệ toàn cầu.

Nhiều phòng thí nghiệm về robot, tự động hóa, giao thông thông minh, cảm biến… được đầu tư mạnh mẽ tại các cơ sở đào tạo. Ảnh: NGUYỄN NAM

Đường vào công nghệ lõi

Việc ban hành danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược cùng 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược thể hiện bước đi hiện thực hóa tham vọng của Việt Nam.

HTX khu vực nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn và tổ chức sản xuất cho nông dân. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Gỡ điểm nghẽn để hợp tác xã tăng tốc

Nghị quyết 68-NQ/TW đã mở ra cơ hội liên kết sâu hơn với kinh tế tư nhân, đặt hợp tác xã trước sức ép phải đổi mới quản trị, chuyển đổi số và tham gia thị trường bằng tư duy của một chủ thể kinh tế hiện đại.

Tâm lý e ngại rủi ro thể chế còn có thể khiến doanh nghiệp thu hẹp quy mô đầu tư. Ảnh: BẮC SƠN

Áp lực nâng chuẩn môi trường kinh doanh

Dù vẫn giữ sức hút đầu tư, những rào cản về thủ tục và chi phí tuân thủ đang tạo áp lực nâng chuẩn môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Cải cách vì thế trở thành yêu cầu cấp thiết để tăng sức cạnh tranh trong khu vực.

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đã kiến nghị Thủ tướng cho phép doanh nghiệp được vay vàng từ người dân với lãi suất thỏa thuận theo quy định.

Để vàng không còn “nằm yên”

Đề xuất cho doanh nghiệp vay vàng trong dân một lần nữa làm nóng bài toán đưa hàng trăm tấn vàng “nằm yên” trở lại lưu thông. Tuy nhiên, tranh luận này không chỉ dừng ở cơ chế vay - cho vay, mà phản ánh vấn đề sâu xa hơn: Thị trường vàng Việt Nam vẫn thiếu một cấu trúc vận hành hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đồng loạt điều chỉnh hạ lãi suất. Ảnh: NAM ANH

Thế khó của ngành ngân hàng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng đang hoạt động trong bối cảnh nhiều sức ép đan xen. Các ngân hàng một mặt phải thực hiện yêu cầu giảm lãi suất, mặt khác, mục tiêu tăng trưởng được điều chỉnh thấp hơn so với năm 2025.

Sức mạnh cổ đông

Số lượng cổ đông lớn không chỉ là câu chuyện của mỗi doanh nghiệp, mà nó là tầm nhìn cũng như kỳ vọng của thị trường chứng khoán (TTCK). Doanh nghiệp làm ăn bài bản, sở hữu số lượng cổ đông lớn là minh chứng rõ nét cho sự thành công của mô hình công ty đại chúng.

Tiềm năng của một dòng phim

Tuần qua vừa ghi nhận phim kinh dị “Phí Phông: Quỷ máu rừng thiêng” vượt ngưỡng doanh thu 100 tỷ đồng. Đây là bộ phim Việt Nam thứ 7 vượt ngưỡng “trăm tỷ” trong năm 2026

Niềm vui cần thủ khi “lên hàng”.

“Cơn sốt” săn tôm càng xanh trên sông Dinh

Từ đầu xuân 2026, dòng sông Dinh hiền hòa ở Yên Thành (Nghệ An) bất ngờ “dậy sóng” bởi một "cơn sốt" săn tôm càng xanh. Từ tinh mơ đến đêm khuya, hai bên bờ sông ken dày cần thủ, đèn câu sáng rực.

Thương hiệu quốc gia trở thành nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp Việt nâng cao giá trị. Ảnh: NAM HẢI

Nâng "độ sâu" cho thương hiệu Việt

Sau hơn hai thập kỷ, Chương trình Thương hiệu quốc gia đã giúp nâng tầm doanh nghiệp Việt. Nhưng thách thức vẫn còn đó khi nhiều doanh nghiệp vẫn dừng ở gia công, chưa có nhiều thương hiệu tầm cỡ quốc tế.

Nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư năng lượng tái tạo để phục vụ sản xuất. Ảnh: KHIẾU MINH

Gỡ nút thắt đưa điện “xanh” vào khu công nghiệp

Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) và hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) được kỳ vọng trở thành nền tảng cho quá trình xanh hóa sản xuất. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy nhiều điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và tài chính vẫn đang cản trở dòng chảy điện xanh vào khu công nghiệp.

Quy mô tài sản bảo đảm trong toàn hệ thống ngân hàng đang ở mức rất lớn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Áp dụng cơ chế thị trường cho xử lý nợ

Theo các chuyên gia, một điểm nghẽn lớn trong xử lý nợ xấu là cơ chế định giá và mua bán nợ. Những khoản nợ vốn dĩ mang bản chất “xấu” lại được rao bán như thể “đẹp”.

Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất 2.

Nhiều vướng mắc ngăn bước các đại dự án

Nhiều dự án công nghiệp và hạ tầng quy mô lớn đang gặp khó trong việc đạt các mốc tiến độ đã đặt ra. Vướng mắc về mặt bằng, tái định cư và thủ tục liên quan vẫn là những lý do "muôn thuở".

Cẩn trọng với “chuyên gia online”

Trên mạng xã hội hiện nay thường xuyên diễn ra các hoạt động phân tích, khuyến nghị mua, bán cổ phiếu (CP) và nếu nhà đầu tư (NĐT) thiếu kinh nghiệm nghe theo thì rủi ro đi kèm là rất lớn. Cần nhấn mạnh, rủi ro ở đây là cả cho người “phím hàng” và người nghe theo.

Cán cân thay đổi

Trước đây, cơ hội được chia đều cho tất cả các đơn vị kinh doanh trên sàn thương mại điện tử (TMĐT). Nhưng cán cân bắt đầu thay đổi khi chỉ trong vài năm gần đây, các nhãn hiệu lớn, shop lớn, hay các “tay chơi” giàu nguồn lực đã nắm thế chủ động.

Trụ cột an sinh mới từ quỹ hưu trí bổ sung

Trụ cột an sinh mới từ quỹ hưu trí bổ sung

Sau 10 năm thí điểm, khuôn khổ pháp lý cho chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung đã được hoàn thiện nhằm góp phần đa dạng hóa hệ thống an sinh xã hội, tăng thu nhập cho người lao động khi về hưu. Đây cũng là một công cụ tài chính hỗ trợ phát triển thị trường vốn trong dài hạn.

Một thương hiệu trà sữa được giới thiệu đến người tiêu dùng tại hội chợ ngành đồ uống. Ảnh: NGUYỆT ANH

Tái cấu trúc ở ngành hàng đồ uống

Nhiều cửa hàng, hộ kinh doanh ăn uống nhỏ lẻ đã buộc phải đóng cửa sau giai đoạn “gồng lỗ”, khi chiếc “phao” là vốn dự phòng, tiền tiết kiệm tới hạn. Kinh doanh dịch vụ ăn uống đứng trước ngưỡng cửa tái cấu trúc khốc liệt.

FDI được dự báo tiếp tục gia tăng trong công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao. Ảnh: NAM HẢI

Nâng cấp nền tảng thu hút dòng vốn nước ngoài

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đang tăng trưởng tích cực, nhưng để duy trì sức hút trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, yêu cầu đặt ra là phải nâng cấp toàn diện nền tảng thu hút đầu tư, hướng tới các dòng vốn chất lượng cao, gắn với chuyển đổi “xanh” và “số”.

Nhiều doanh nghiệp châu Âu chọn Việt Nam là điểm đến để đầu tư. Ảnh: ANH QUÂN

Niềm tin khi đi qua vùng “biển động”

Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) vừa công bố báo cáo Chỉ số Niềm tin kinh doanh (BCI) quý I/2026. Chỉ số đạt mức 72,7 điểm, giảm 7,3 điểm so mức ghi nhận vào quý IV/2025.