Khi ngành nhôm vẫn dừng ở bán thành phẩm

Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có trữ lượng bauxite lớn trên thế giới. Nhưng sau hơn một thập kỷ phát triển công nghiệp bauxite tại Tây Nguyên, chuỗi giá trị nhôm trong nước vẫn chưa thể hình thành trọn vẹn.

Sản phẩm alumin phục vụ xuất khẩu tại Nhà máy Alumin Nhân Cơ. Ảnh: LÂM ĐỒNG
Sản phẩm alumin phục vụ xuất khẩu tại Nhà máy Alumin Nhân Cơ. Ảnh: LÂM ĐỒNG

Phần lớn alumin tiếp tục được xuất khẩu, trong khi các dự án luyện nhôm và chế biến sâu vẫn mắc kẹt ở khâu quy hoạch, hạ tầng và cơ chế đầu tư.

Với trữ lượng bauxite ước tính hơn 5,8 tỷ tấn, phần lớn tập trung tại Tây Nguyên, nơi được định hướng trở thành trung tâm công nghiệp bauxite, alumin và nhôm của cả nước, Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia sở hữu nguồn tài nguyên bauxite lớn trên thế giới. Dù vậy, đến nay chuỗi giá trị của ngành này mới chỉ vận hành đầy đủ ở một công đoạn, trong khi nhiều khâu có giá trị gia tăng cao hơn chưa được hình thành hoàn chỉnh.

Trong khi nhiều quốc gia khai thác bauxite đã dịch chuyển nhanh sang mô hình chế biến sâu và luyện nhôm để gia tăng giá trị, ngành công nghiệp nhôm của Việt Nam vẫn đang loay hoay ở giai đoạn trung gian, nơi hiệu quả đầu tư phụ thuộc lớn vào biến động giá hàng hóa toàn cầu và chi phí logistics.

Những cánh én rời rạc

Tổ hợp bauxite - alumin Tân Rai (Lâm Đồng) hiện là dự án duy nhất vận hành ổn định trong toàn bộ chuỗi công nghiệp bauxite tại Tây Nguyên. Dự án do Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư, có công suất thiết kế khoảng 650.000 tấn alumin/năm, với tổng mức đầu tư 15.400 tỷ đồng.

Tân Rai đi vào vận hành thương mại từ năm 2013 và đến nay đã trở thành nguồn cung alumin ổn định cho xuất khẩu. Sản phẩm alumin của dự án chủ yếu được xuất khẩu sang các thị trường châu Á, phục vụ các tổ hợp luyện nhôm tại nước ngoài.

Nhưng hơn 10 năm sau ngày Tân Rai vận hành thương mại, Việt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu alumin thay vì tạo ra một chuỗi luyện nhôm hoàn chỉnh.

Hiệu quả kinh tế của tổ hợp này vẫn bị giới hạn khi chuỗi giá trị dừng lại ở alumin. Việt Nam chưa có các cơ sở luyện nhôm quy mô lớn tại chỗ để tiêu thụ alumin, trong khi chi phí logistics, chi phí vận chuyển đường dài và biến động giá alumin trên thị trường quốc tế tiếp tục ảnh hưởng đến biên lợi nhuận.

Thực trạng của Tân Rai cho thấy, việc phát triển từng khâu riêng lẻ không đủ để hình thành một ngành công nghiệp nhôm hoàn chỉnh. Khi các mắt xích phía sau không thể triển khai đồng thời, hiệu quả đầu tư của cả chuỗi bị thu hẹp, dù dự án đầu nguồn đã vận hành ổn định.

Ở giai đoạn sau của chuỗi giá trị, hàng loạt dự án alumin và luyện nhôm đã được đưa vào quy hoạch hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư, song chưa thể triển khai đúng tiến độ.

Tại Lâm Đồng, Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã được chấp thuận đầu tư hai dự án alumin mới, mỗi dự án có công suất khoảng 1,2 triệu tấn alumin/năm, với tổng mức đầu tư dự kiến gần 60.000 tỷ đồng. Các dự án này được kỳ vọng sẽ nâng đáng kể năng lực chế biến alumin của khu vực, đồng thời tạo nguồn cung đầu vào ổn định cho các tổ hợp luyện nhôm trong nước.

Thế nhưng, cho đến nay, các dự án vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện hồ sơ pháp lý. Những vướng mắc chính liên quan đến điều chỉnh quy hoạch khoáng sản, rà soát diện tích đất rừng, đất sản xuất và sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.

Cũng tại Lâm Đồng, dự án alumin Đắk Nông 2 với tổng mức đầu tư hơn 21.000 tỷ đồng hiện đang trong giai đoạn đề xuất. Dự án được quy hoạch khai thác tại khu vực có trữ lượng bauxite lớn, song vấp phải sự chồng lấn giữa quy hoạch khoáng sản với quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng, khiến quá trình chuẩn bị đầu tư kéo dài nhiều năm.

Ngoài các dự án nêu trên, nhóm dự án bauxite - alumin tại Tây Nguyên còn bao gồm nhiều khu vực mỏ đã được khoanh định trong quy hoạch khoáng sản quốc gia. Tuy nhiên, phần lớn các khu vực này chồng lấn với đất rừng, đất nông nghiệp hoặc các quy hoạch khác, đòi hỏi phải trải qua nhiều vòng rà soát liên ngành trước khi có thể triển khai.

Điểm chung của các dự án alumin là quy mô lớn, vốn đầu tư dài hạn và thời gian thu hồi vốn kéo dài, chỉ thật sự hiệu quả khi được kết nối với các tổ hợp luyện nhôm và hạ tầng điện tương ứng. Trong khi đó, ở quy hoạch vùng nguyên liệu bô-xít, cơ chế giá điện cho luyện nhôm và sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch khoáng sản với quy hoạch điện quốc gia.

Kỳ vọng từ cơ chế “lưỡng dụng quy hoạch”

Tổng hợp từ các dự án alumin và điện nhôm tại Tây Nguyên cho thấy dòng vốn đầu tư đã được giải ngân ở mức đáng kể cho các hoạt động khảo sát, lập dự án và xây dựng hạ tầng ban đầu. Ngoài tổ hợp alumin Tân Rai đã hoàn tất giải ngân hơn 15.400 tỷ đồng, các dự án alumin và điện nhôm còn lại cũng đã phát sinh chi phí cho công tác khảo sát, lập dự án, đền bù - giải phóng mặt bằng cục bộ và hạ tầng ban đầu ở quy mô hàng nghìn tỷ đồng.

Trước đây, chỉ cần một khu vực đã nằm trong quy hoạch rừng, đất nông nghiệp hoặc hạ tầng khác, dự án khai khoáng gần như phải dừng để chờ điều chỉnh toàn bộ quy hoạch liên quan. Cơ chế “lưỡng dụng quy hoạch” được kỳ vọng sẽ cho phép đánh giá linh hoạt hơn, thay vì áp dụng nguyên tắc loại trừ tuyệt đối giữa các quy hoạch chồng lấn.

Tổ hợp alumin Tân Rai đã vận hành nhưng không thể kết nối với chuỗi luyện nhôm tại chỗ. Các dự án alumin mới tại Lâm Đồng vẫn đang chờ hoàn thiện thủ tục, hoặc chờ bước sang giai đoạn vận hành. Việc kéo dài tiến độ làm phát sinh chi phí tài chính cho các chủ đầu tư, đặc biệt với các dự án sử dụng đòn bẩy vốn lớn. Trong khi đó, nguồn lực tài nguyên đã được khoanh định nhưng chưa thể khai thác hiệu quả, khiến chuỗi giá trị công nghiệp nhôm bị gián đoạn.

Ở cấp độ hệ thống, việc các dự án không thể triển khai đồng bộ cũng khiến mục tiêu hình thành ngành công nghiệp nhôm có sức cạnh tranh quốc tế bị chậm lại trong bối cảnh nhu cầu nhôm cho năng lượng tái tạo, giao thông và xây dựng đang gia tăng mạnh.

Để xử lý các vướng mắc tồn đọng, một số công cụ pháp lý mới đã được đặt ra. Điển hình nhất là Nghị quyết 253/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, lần đầu tiên xác lập cơ chế “lưỡng dụng quy hoạch”, cho phép xem xét đồng thời nhiều mục tiêu trên cùng một không gian quy hoạch, thay vì loại trừ tuyệt đối khi có chồng lấn.

Theo hướng tiếp cận này, các dự án alumin và luyện nhôm có thể được đánh giá dựa trên hiệu quả kinh tế - xã hội tổng thể, làm cơ sở cho việc điều chỉnh hoặc cho phép cùng tồn tại với các quy hoạch khác trong những khu vực chưa đến kỳ khai thác.

Song song đó, Bộ Công thương đã yêu cầu rà soát lại quy hoạch bauxite theo hướng tích hợp hơn với các quy hoạch liên quan, đồng thời xem xét các nút thắt về hạ tầng và giá điện cho các tổ hợp luyện nhôm.

Tuy nhiên, hiệu quả của các định hướng này phụ thuộc trực tiếp vào tiến độ ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể và sự phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan. Cho đến khi các quy định này được thực thi trên thực tế, các dự án bauxite - alumin - nhôm tại Tây Nguyên vẫn cần thêm thời gian để chuyển từ trạng thái chuẩn bị sang vận hành.

Ngoài các dự án đã nêu, theo hồ sơ quy hoạch khoáng sản quốc gia, khu vực Tây Nguyên còn được xác định là nơi tập trung nhiều thân quặng bauxite có quy mô công nghiệp, đủ điều kiện để phát triển thêm các tổ hợp alumin và luyện nhôm trong dài hạn. Tuy nhiên, việc đưa các khu vực này vào khai thác đòi hỏi phải giải quyết đồng thời các vấn đề về sử dụng đất, hạ tầng giao thông và đặc biệt là nguồn điện cung cấp ổn định cho sản xuất.

Các địa phương cho biết, phần lớn các khu vực mỏ tiềm năng hiện vẫn nằm trong trạng thái “giữ chỗ” quy hoạch nhưng chưa thể chuyển sang giai đoạn triển khai do thiếu cơ chế pháp lý cụ thể để xử lý các chồng lấn quy hoạch đã tồn tại từ trước. Điều này khiến dư địa phát triển của ngành bauxite - nhôm tại Tây Nguyên vẫn chưa được hiện thực hóa dù tài nguyên đã được xác lập trên giấy tờ.

Hơn một thập kỷ sau ngày những tấn alumin đầu tiên rời Tây Nguyên, ngành công nghiệp nhôm Việt Nam vẫn đang đứng giữa trạng thái “đã khởi động nhưng chưa thể cất cánh”, khi tài nguyên đã được xác lập, vốn đầu tư đã chờ sẵn, nhưng các mắt xích của chuỗi giá trị vẫn chưa thể nối liền.

Có thể bạn quan tâm

Người tiêu dùng trẻ lựa chọn sản phẩm SANYO có mức giá phù hợp nhưng vẫn bảo đảm chất lượng. Ảnh: NAM ANH

Thương hiệu Nhật trở lại và sức hút từ thị trường Việt

Sự trở lại của thương hiệu điện máy Nhật Bản Sanyo sau gần một thập niên vắng bóng không chỉ gợi lại ký ức của nhiều thế hệ người tiêu dùng Việt Nam. Đất nước hình chữ S đang trở thành điểm đến hấp dẫn hàng đầu của dòng vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thành phố Hồ Chí Minh đang tập trung nhiều giải pháp để tận dụng tiềm năng kinh tế cuối tuần.

Tận dụng tiềm năng kinh tế cuối tuần

Kinh tế cuối tuần được xem là hướng tiếp cận tiềm năng, giúp Thành phố Hồ Chí Minh tối ưu hóa việc sử dụng thời gian, không gian đô thị và hạ tầng hiện hữu. Mô hình này cũng góp phần tạo thêm giá trị gia tăng cho các ngành thế mạnh như dịch vụ, thương mại và du lịch.

Đồ họa: ANH QUÂN

Giải bài toán kiểm soát lạm phát

Giá dầu, chi phí logistics và áp lực tỷ giá đang khiến bài toán kiểm soát lạm phát của Việt Nam trở nên phức tạp hơn so với các giai đoạn trước.

Tuổi đời của giải chạy

Ngoài năng lực vận hành, số lượng người chạy (runner), trải nghiệm mang lại cho người tham gia… thì thâm niên hay tuổi đời cũng là yếu tố quan trọng để tạo nên sức hút của một giải chạy. Năm 2026 đã đi qua gần một nửa và ghi nhận sự thanh lọc gắt gao trong các giải chạy bộ.

Tính đến nay, đã có 42 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất lại gặp áp lực

Khi tín dụng tăng nhanh còn tiền gửi tăng chậm, áp lực lãi suất bắt đầu quay lại hệ thống ngân hàng. Ở mặt khác, ngân hàng đang chịu áp lực phải bảo đảm mức lãi vay ở mức thấp nhất có thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.

Kỹ sư đang thuyết trình giới thiệu sản phẩm công nghệ. Ảnh: NGUYỆT ANH

Vẫn thiếu người “vẽ bản đồ” công nghệ

Chính phủ đã có động thái thể hiện quyết tâm bứt phá bằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhưng một thực tế đang đặt ra là việc khó tìm kiếm những người “vẽ bản thiết kế” cho các đề tài, dự án lớn.

Số doanh nghiệp thành lập mới tăng cho thấy thể chế đang chuyển động theo hướng thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bồi đắp “sức bền” cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp gia nhập thị trường gia tăng, nhưng áp lực rút lui vẫn lớn. Bồi đắp “sức bền” trở thành yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp trụ lại và phát triển.

Mô hình mới cho F&B nhỏ lẻ

Do tính chất phổ biến và thiết yếu, kinh doanh ăn uống (F&B) luôn là một ngành sôi động dù có phải đối mặt với nhiều thách thức. Nhưng trong thực tế ngành F&B đang có những thay đổi, thách thức vô cùng mạnh mẽ, đặc biệt ở quy mô nhỏ.

Những dự án được đầu tư hạ tầng đồng bộ thường ghi nhận giá trị bất động sản tăng rõ rệt. Ảnh: NAM ANH

“Cơn sốt” kỳ vọng của bất động sản

Liên tiếp các dự án hạ tầng lớn được công bố, giá chào bán bất động sản tại nhiều nơi bị đẩy lên cao. Các chuyên gia cảnh báo, thị trường đang được dẫn dắt bởi kỳ vọng nhiều hơn nền tảng.

Hệ sinh thái 5G Open RAN do Viettel và Qualcomm hợp tác.

Đặt nền móng cho kỷ nguyên kết nối mới

Trong khi mạng 5G vẫn đang trong quá trình triển khai và thương mại hóa, Việt Nam đã bắt đầu chuẩn bị nền tảng 6G. Những bước đi này mở ra cơ hội để tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái công nghệ toàn cầu.

Nhiều phòng thí nghiệm về robot, tự động hóa, giao thông thông minh, cảm biến… được đầu tư mạnh mẽ tại các cơ sở đào tạo. Ảnh: NGUYỄN NAM

Đường vào công nghệ lõi

Việc ban hành danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược cùng 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược thể hiện bước đi hiện thực hóa tham vọng của Việt Nam.

HTX khu vực nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn và tổ chức sản xuất cho nông dân. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Gỡ điểm nghẽn để hợp tác xã tăng tốc

Nghị quyết 68-NQ/TW đã mở ra cơ hội liên kết sâu hơn với kinh tế tư nhân, đặt hợp tác xã trước sức ép phải đổi mới quản trị, chuyển đổi số và tham gia thị trường bằng tư duy của một chủ thể kinh tế hiện đại.

Tâm lý e ngại rủi ro thể chế còn có thể khiến doanh nghiệp thu hẹp quy mô đầu tư. Ảnh: BẮC SƠN

Áp lực nâng chuẩn môi trường kinh doanh

Dù vẫn giữ sức hút đầu tư, những rào cản về thủ tục và chi phí tuân thủ đang tạo áp lực nâng chuẩn môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Cải cách vì thế trở thành yêu cầu cấp thiết để tăng sức cạnh tranh trong khu vực.

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đã kiến nghị Thủ tướng cho phép doanh nghiệp được vay vàng từ người dân với lãi suất thỏa thuận theo quy định.

Để vàng không còn “nằm yên”

Đề xuất cho doanh nghiệp vay vàng trong dân một lần nữa làm nóng bài toán đưa hàng trăm tấn vàng “nằm yên” trở lại lưu thông. Tuy nhiên, tranh luận này không chỉ dừng ở cơ chế vay - cho vay, mà phản ánh vấn đề sâu xa hơn: Thị trường vàng Việt Nam vẫn thiếu một cấu trúc vận hành hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đồng loạt điều chỉnh hạ lãi suất. Ảnh: NAM ANH

Thế khó của ngành ngân hàng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng đang hoạt động trong bối cảnh nhiều sức ép đan xen. Các ngân hàng một mặt phải thực hiện yêu cầu giảm lãi suất, mặt khác, mục tiêu tăng trưởng được điều chỉnh thấp hơn so với năm 2025.

Sức mạnh cổ đông

Số lượng cổ đông lớn không chỉ là câu chuyện của mỗi doanh nghiệp, mà nó là tầm nhìn cũng như kỳ vọng của thị trường chứng khoán (TTCK). Doanh nghiệp làm ăn bài bản, sở hữu số lượng cổ đông lớn là minh chứng rõ nét cho sự thành công của mô hình công ty đại chúng.

Tiềm năng của một dòng phim

Tuần qua vừa ghi nhận phim kinh dị “Phí Phông: Quỷ máu rừng thiêng” vượt ngưỡng doanh thu 100 tỷ đồng. Đây là bộ phim Việt Nam thứ 7 vượt ngưỡng “trăm tỷ” trong năm 2026

Niềm vui cần thủ khi “lên hàng”.

“Cơn sốt” săn tôm càng xanh trên sông Dinh

Từ đầu xuân 2026, dòng sông Dinh hiền hòa ở Yên Thành (Nghệ An) bất ngờ “dậy sóng” bởi một "cơn sốt" săn tôm càng xanh. Từ tinh mơ đến đêm khuya, hai bên bờ sông ken dày cần thủ, đèn câu sáng rực.

Thương hiệu quốc gia trở thành nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp Việt nâng cao giá trị. Ảnh: NAM HẢI

Nâng "độ sâu" cho thương hiệu Việt

Sau hơn hai thập kỷ, Chương trình Thương hiệu quốc gia đã giúp nâng tầm doanh nghiệp Việt. Nhưng thách thức vẫn còn đó khi nhiều doanh nghiệp vẫn dừng ở gia công, chưa có nhiều thương hiệu tầm cỡ quốc tế.

Nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư năng lượng tái tạo để phục vụ sản xuất. Ảnh: KHIẾU MINH

Gỡ nút thắt đưa điện “xanh” vào khu công nghiệp

Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) và hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) được kỳ vọng trở thành nền tảng cho quá trình xanh hóa sản xuất. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy nhiều điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và tài chính vẫn đang cản trở dòng chảy điện xanh vào khu công nghiệp.

Quy mô tài sản bảo đảm trong toàn hệ thống ngân hàng đang ở mức rất lớn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Áp dụng cơ chế thị trường cho xử lý nợ

Theo các chuyên gia, một điểm nghẽn lớn trong xử lý nợ xấu là cơ chế định giá và mua bán nợ. Những khoản nợ vốn dĩ mang bản chất “xấu” lại được rao bán như thể “đẹp”.

Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất 2.

Nhiều vướng mắc ngăn bước các đại dự án

Nhiều dự án công nghiệp và hạ tầng quy mô lớn đang gặp khó trong việc đạt các mốc tiến độ đã đặt ra. Vướng mắc về mặt bằng, tái định cư và thủ tục liên quan vẫn là những lý do "muôn thuở".

Cẩn trọng với “chuyên gia online”

Trên mạng xã hội hiện nay thường xuyên diễn ra các hoạt động phân tích, khuyến nghị mua, bán cổ phiếu (CP) và nếu nhà đầu tư (NĐT) thiếu kinh nghiệm nghe theo thì rủi ro đi kèm là rất lớn. Cần nhấn mạnh, rủi ro ở đây là cả cho người “phím hàng” và người nghe theo.

Cán cân thay đổi

Trước đây, cơ hội được chia đều cho tất cả các đơn vị kinh doanh trên sàn thương mại điện tử (TMĐT). Nhưng cán cân bắt đầu thay đổi khi chỉ trong vài năm gần đây, các nhãn hiệu lớn, shop lớn, hay các “tay chơi” giàu nguồn lực đã nắm thế chủ động.

Trụ cột an sinh mới từ quỹ hưu trí bổ sung

Trụ cột an sinh mới từ quỹ hưu trí bổ sung

Sau 10 năm thí điểm, khuôn khổ pháp lý cho chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung đã được hoàn thiện nhằm góp phần đa dạng hóa hệ thống an sinh xã hội, tăng thu nhập cho người lao động khi về hưu. Đây cũng là một công cụ tài chính hỗ trợ phát triển thị trường vốn trong dài hạn.