Rào cản của khu công nghiệp sinh thái

Số lượng các khu công nghiệp sinh thái chỉ mới chiếm chưa tới 1%. Trong khi đó, nguy cơ hình thành các “bãi rác công nghệ” lại đang hiển hiện.

Phần lớn các khu công nghiệp hiện nay vẫn vận hành theo mô hình đa ngành truyền thống. Ảnh: NAM ANH
Phần lớn các khu công nghiệp hiện nay vẫn vận hành theo mô hình đa ngành truyền thống. Ảnh: NAM ANH

Trong tiến trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, mô hình khu công nghiệp sinh thái (KCNST) đang được xác định là hướng đi tất yếu của nền công nghiệp Việt Nam. Hệ thống chính sách, pháp luật đã từng bước hoàn thiện. Nghị định số 35/2022/NĐ-CP về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, kế thừa và hoàn thiện các quy định trước đó, đã quy định rõ các tiêu chí, quy trình chứng nhận, cũng như cơ chế ưu đãi và giám sát đối với loại hình KCNST.

Tuy nhiên, việc nhân rộng mô hình này trên thực tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi những giải pháp đồng bộ và mang tính đột phá.

Nhu cầu cấp bách nhưng chuyển đổi vẫn chậm

Theo báo cáo của Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp thành phố Hà Nội, áp lực chuyển đổi khu công nghiệp đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhiều khu công nghiệp hình thành từ sớm đang bộc lộ những hạn chế về hạ tầng, công nghệ và môi trường.

Trong 8 khu công nghiệp đang hoạt động ổn định, có tới 29,6% doanh nghiệp thuộc nhóm ngành tiềm ẩn “công nghệ thấp phát thải cao”. Tỷ lệ này đặc biệt cao tại một số khu như Quang Minh, Nội Bài, Thăng Long và Phú Nghĩa.

Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ một giai đoạn dài trước đây, mục tiêu “lấp đầy đất công nghiệp” và tạo việc làm được ưu tiên hơn chất lượng công nghệ và giá trị gia tăng. Cùng với đó, công cụ kiểm soát sau cấp phép còn hạn chế, hạ tầng môi trường chưa đáp ứng yêu cầu mới, việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý chưa đồng bộ.

Hệ lụy của tình trạng này là nguy cơ hình thành “bãi rác công nghệ”. Các dây chuyền sản xuất lạc hậu tiếp tục tồn tại trong cùng một không gian công nghiệp, làm gia tăng rủi ro môi trường và giảm sức hấp dẫn đầu tư.

Nếu không kịp thời chuyển đổi, quỹ đất công nghiệp của Thủ đô sẽ bị “khóa chặt” trong mô hình tăng trưởng cũ, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và khả năng thu hút các dự án công nghệ cao.

Bức tranh của Hà Nội cũng phản ánh rõ tình hình tại nhiều địa phương trên cả nước. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), thực tế việc chuyển đổi các mô hình khu công nghiệp hiện hữu sang mô hình xanh, sinh thái và kết hợp đô thị dịch vụ vẫn chưa tương xứng với kỳ vọng. Phần lớn các khu công nghiệp hiện nay vẫn vận hành theo mô hình đa ngành truyền thống, chiếm tới 84,5%, với mức độ phát thải và tiêu hao tài nguyên còn cao.

Theo TS Vương Thị Minh Hiếu, Phó Cục trưởng Đầu tư nước ngoài, việc thúc đẩy KCNST là cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao. “Đây là xu hướng tất yếu nhằm cân bằng giữa phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường, đồng thời tận dụng các chính sách ưu đãi mà Nhà nước đã ban hành”, bà nhấn mạnh.

Thực tiễn triển khai tại nhiều địa phương cho thấy, việc chuyển đổi từ khu công nghiệp truyền thống sang khu công nghiệp sinh thái là một quá trình tái cấu trúc toàn diện, đòi hỏi thời gian, nguồn lực và sự thay đổi về tư duy.

Ông Lê Viết Phúc, Phó Trưởng ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, hiện có 59 khu công nghiệp đang hoạt động, nhưng mới chỉ có hai khu đang trong quá trình chuyển đổi sang mô hình sinh thái. Việc chuyển đổi này thường kéo dài từ 4 đến 5 năm, do phải đồng thời xử lý nhiều vấn đề phức tạp.

Khó khăn đầu tiên là hạ tầng kỹ thuật của các khu công nghiệp hiện hữu đã được xây dựng ổn định theo tiêu chuẩn cũ. Việc nâng cấp để đáp ứng các yêu cầu về tuần hoàn năng lượng, xử lý nước thải, tái sử dụng tài nguyên… đòi hỏi chi phí rất lớn. “Đây là áp lực tài chính không nhỏ đối với cả chủ đầu tư hạ tầng và doanh nghiệp thứ cấp”, ông nói.

Bên cạnh đó, việc tiếp cận nguồn tài chính xanh vẫn còn nhiều trở ngại. Các thủ tục, điều kiện vay vốn còn phức tạp, trong khi doanh nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng các dự án đáp ứng tiêu chuẩn môi trường quốc tế.

Một số doanh nghiệp lại chưa nhận thức được vai trò và ý nghĩa của việc chuyển đổi mô hình các khu công nghiệp sang sinh thái.

Mô hình “cộng sinh công nghiệp”, trong đó chất thải của doanh nghiệp này trở thành nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp khác vẫn còn gặp nhiều vướng mắc do liên quan đến quy định pháp lý và cách hiểu về chất thải. Hạ tầng xã hội trong các khu công nghiệp hiện hữu cũng là một điểm nghẽn, khi quỹ đất dành cho các công trình dịch vụ, nhà ở, tiện ích còn hạn chế.

Tính đến tháng 12/2025, cả nước đã có 485 khu công nghiệp được thành lập, trong đó 326 khu đang hoạt động. Nhưng các khu công nghiệp định hướng sinh thái mới chỉ có 3 khu, chiếm khoảng 0,61% tổng số.

Từ “lấp đầy” sang “giá trị”

Định hướng phát triển khu công nghiệp trong giai đoạn tới đã có sự thay đổi căn bản. Trọng tâm không còn là “lấp đầy” diện tích, mà là nâng cao giá trị trên mỗi đơn vị đất, thông qua các tiêu chí về công nghệ, môi trường và hiệu quả sử dụng.

Chính phủ đặt mục tiêu các KCNST sẽ chiếm khoảng 10% tổng số khu công nghiệp trong thời gian tới. Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi, các chuyên gia cho rằng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết là “làm sạch” cả hiện trường và danh mục dự án, kiên quyết xử lý các cơ sở phát thải cao, sử dụng đất kém hiệu quả.

Bộ tiêu chí sàng lọc dự án theo các tiêu chí về công nghệ, môi trường, hiệu quả sử dụng đất và quản trị số là hết sức cần thiết. Đồng thời, cần gắn trách nhiệm của chủ đầu tư hạ tầng và doanh nghiệp thứ cấp với các chỉ số cụ thể. Bên cạnh đó, việc thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý khu công nghiệp, xây dựng hệ thống giám sát theo thời gian thực, sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản trị và kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm.

Về tài chính, cần có cơ chế linh hoạt hơn để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn xanh, đơn giản hóa thủ tục và khuyến khích đầu tư vào công nghệ sạch, giải pháp tuần hoàn.

TS Hoàng Dương Tùng, đại diện Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, nhấn mạnh rằng: “Khu công nghiệp sinh thái là biểu hiện của kinh tế tuần hoàn. Nếu chúng ta tái sử dụng được nước thải, chất thải và năng lượng thì không chỉ bảo vệ được môi trường mà còn tiết kiệm tài nguyên và chi phí sản xuất”.

Theo ông, việc xây dựng các tiêu chuẩn “phù hợp mục đích sử dụng” (fit for use) cho nước và chất thải là rất quan trọng, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc tái sử dụng trong sản xuất.

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, phát triển KCNST không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu tất yếu. Đây là chìa khóa để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Ông Lê Thanh Sơn, Phó Trưởng ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp Hà Nội cho biết, thành phố xác định chuyển đổi khu công nghiệp không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà là chiến lược dài hạn. “Chúng tôi đang xây dựng bộ tiêu chí chuyển đổi toàn diện, từ hạ tầng, môi trường, năng lượng, đến quản trị thông minh, để các khu công nghiệp hiện hữu vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của Thủ đô”.

Để biến định hướng thành hiện thực, cần sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội. Chỉ khi tháo gỡ được những rào cản về thể chế, hạ tầng, tài chính và nhận thức, mô hình khu công nghiệp sinh thái mới có thể được nhân rộng, trở thành nền tảng cho một nền công nghiệp phát triển bền vững trong tương lai.

Có thể bạn quan tâm

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Khách xếp hàng để mua bán vàng . Ảnh: NGUYỆT ANH

Cuộc đại phẫu thị trường vàng

Cơn sóng bán vàng những ngày gần đây phơi bày những điểm yếu lâu năm về thanh khoản, nguồn gốc hàng hóa và cơ chế định giá. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trước khi đạt được đích đến, một thị trường thực sự minh bạch, liên thông và bớt méo mó.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.

Người trẻ mua chứng chỉ quỹ

Công ty chứng khoán (CTCK) SSI vừa công bố việc tích hợp các quỹ mở do Dragon Capital Việt Nam (DCVFM) quản lý lên hệ thống giao dịch SSI iBoard. Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư (NĐT) có tài khoản của SSI ngoài việc theo dõi các chứng chỉ quỹ (CCQ) của SSI quản lý còn theo dõi được thêm CCQ của DCVFM.

Hàng tồn kho là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận chưa thể chuyển hóa thành tiền mặt. Ảnh: NAM ANH

Dòng tiền mới là phép thử

Dù lợi nhuận vẫn hiện hữu trên báo cáo tài chính, nhưng dòng tiền kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bất động sản lại tiếp tục âm. Khoảng cách kéo dài giữa “lãi trên sổ sách” và “tiền thật” có thể biến thành áp lực thanh khoản, đặc biệt với doanh nghiệp có nợ ngắn hạn lớn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nút thắt “tiêu chí” của dòng vốn xanh

Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH

“Hòn đá tảng” của thị trường chứng khoán

Trong các báo cáo phân loại thị trường hằng năm, tình trạng hết tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room ngoại) liên tục được một công ty tài chính đa quốc gia (MSCI - Mỹ) nhắc đến như một hạn chế lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nhà đầu tư tìm hiểu thông tin về dự án tại sàn giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Bất động sản không còn là cuộc chơi của kỳ vọng

Sau một chu kỳ tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự thay đổi tâm lý của nhà đầu tư, từ kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá sang tìm kiếm dòng tiền khai thác. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã không còn tin tuyệt đối vào khả năng tăng giá liên tục của bất động sản.

Tư vấn cho khách hàng vay mua bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn đang được phân loại theo giá trị

Nếu trước đây tín dụng bất động sản chủ yếu được nhìn dưới góc độ rủi ro và cần kiểm soát chặt, thì quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ nhu cầu thực như nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính Mỹ vừa công bố Tuyên bố chung về tiền tệ, tái khẳng định cam kết hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ Đối thoại Chính sách Tài chính vĩ mô Việt Nam - Mỹ, nhấn mạnh việc tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế liên quan chính sách tỷ giá và tiền tệ.

Mới nhưng không lạ

Có thể nói, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang ở giai đoạn phân hoá khốc liệt bậc nhất trong lịch sử. 

Nhiều ngân hàng lớn đang chuẩn bị triển khai các kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh trái phiếu. Ảnh: NAM ANH

Sự đảo chiều trên thị trường trái phiếu

Ngân hàng vốn được xem là khu vực “khỏe” nhất trên thị trường vốn, nhưng nay cũng đã bước vào cuộc đua huy động trái phiếu với mức lãi suất tiệm cận lãi vay. Nhiều đợt phát hành trái phiếu gần đây của các ngân hàng ghi nhận lãi suất lên tới 8-9%/năm, cao hơn đáng kể so cùng kỳ năm trước.

Các hãng hàng không linh hoạt áp dụng nhiều giải pháp để tiết giảm chi phí. Ảnh: KỲ DUYÊN

Kích cầu hàng không, du lịch để thúc đẩy tăng trưởng

Cú sốc giá nhiên liệu đặt các hãng hàng không và lữ hành đứng trước thử thách mới, không chỉ là cạnh tranh về giá mà phải xem xét trong tổng thể chuỗi vận tải-lưu trú-dịch vụ-điểm đến và đặc biệt là phải xây dựng nền tảng phát triển bền vững để thích ứng tốt hơn trong bối cảnh thị trường liên tục thay đổi.

Đừng chủ quan với “hàng cơ bản”

“Hàng cơ bản” là khái niệm chỉ cổ phiếu (CP) của doanh nghiệp (DN) có vị thế đầu ngành, thương hiệu lớn và nền tảng kinh doanh vững chắc. Nhưng trong thời gian gần đây, không ít hàng cơ bản vẫn có thể giảm giá 15-20% chỉ trong thời gian ngắn, đưa không ít nhà đầu tư (NĐT) vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Tính đến nay, đã có 42 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất lại gặp áp lực

Khi tín dụng tăng nhanh còn tiền gửi tăng chậm, áp lực lãi suất bắt đầu quay lại hệ thống ngân hàng. Ở mặt khác, ngân hàng đang chịu áp lực phải bảo đảm mức lãi vay ở mức thấp nhất có thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.

Những dự án được đầu tư hạ tầng đồng bộ thường ghi nhận giá trị bất động sản tăng rõ rệt. Ảnh: NAM ANH

“Cơn sốt” kỳ vọng của bất động sản

Liên tiếp các dự án hạ tầng lớn được công bố, giá chào bán bất động sản tại nhiều nơi bị đẩy lên cao. Các chuyên gia cảnh báo, thị trường đang được dẫn dắt bởi kỳ vọng nhiều hơn nền tảng.

Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đồng loạt điều chỉnh hạ lãi suất. Ảnh: NAM ANH

Thế khó của ngành ngân hàng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng đang hoạt động trong bối cảnh nhiều sức ép đan xen. Các ngân hàng một mặt phải thực hiện yêu cầu giảm lãi suất, mặt khác, mục tiêu tăng trưởng được điều chỉnh thấp hơn so với năm 2025.

Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất 2.

Nhiều vướng mắc ngăn bước các đại dự án

Nhiều dự án công nghiệp và hạ tầng quy mô lớn đang gặp khó trong việc đạt các mốc tiến độ đã đặt ra. Vướng mắc về mặt bằng, tái định cư và thủ tục liên quan vẫn là những lý do "muôn thuở".

Trụ cột an sinh mới từ quỹ hưu trí bổ sung

Trụ cột an sinh mới từ quỹ hưu trí bổ sung

Sau 10 năm thí điểm, khuôn khổ pháp lý cho chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung đã được hoàn thiện nhằm góp phần đa dạng hóa hệ thống an sinh xã hội, tăng thu nhập cho người lao động khi về hưu. Đây cũng là một công cụ tài chính hỗ trợ phát triển thị trường vốn trong dài hạn.