Để vàng không còn “nằm yên”

Đề xuất cho doanh nghiệp vay vàng trong dân một lần nữa làm nóng bài toán đưa hàng trăm tấn vàng “nằm yên” trở lại lưu thông. Tuy nhiên, tranh luận này không chỉ dừng ở cơ chế vay - cho vay, mà phản ánh vấn đề sâu xa hơn: Thị trường vàng Việt Nam vẫn thiếu một cấu trúc vận hành hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đã kiến nghị Thủ tướng cho phép doanh nghiệp được vay vàng từ người dân với lãi suất thỏa thuận theo quy định.
Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đã kiến nghị Thủ tướng cho phép doanh nghiệp được vay vàng từ người dân với lãi suất thỏa thuận theo quy định.

Trong kiến nghị gửi Thủ tướng Chính phủ về chính sách quản lý kinh doanh vàng trang sức mỹ nghệ, Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam (VGTA) đề xuất cho phép doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự để sản xuất. Theo Hiệp hội, việc thiếu cơ chế pháp lý để huy động nguồn vàng nội địa đang khiến một lượng lớn tài sản bị “đóng băng”, chưa được đưa vào phục vụ sản xuất.

Lợi bất cập hại

Trong văn bản kiến nghị, VGTA cho rằng, việc huy động hoặc thu mua vàng từ người dân để phục vụ sản xuất hiện vẫn tiềm ẩn rủi ro pháp lý do thiếu khung quy định cụ thể, qua đó hạn chế khả năng chủ động nguồn nguyên liệu của doanh nghiệp.

Theo tính toán của Hiệp hội, ngành vàng trang sức mỗi năm cần khoảng 50 tấn vàng nguyên liệu, tương đương gần 5 tỷ USD. Bình quân mỗi tháng, nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu chỉ khoảng 416 triệu USD, được đánh giá là khá nhỏ so với quy mô giao dịch 25-30 tỷ USD/tháng trên thị trường liên ngân hàng, nên không tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá nếu được kiểm soát phù hợp.

Đáng chú ý, nếu lượng vàng này được đưa vào chế tác, với một nửa phục vụ tiêu dùng trong nước và khoảng 25 tấn dành cho xuất khẩu, kim ngạch có thể đạt 3,5-4 tỷ USD mỗi năm.

Đồng tình với quan điểm của Hiệp hội, TS Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, hiện có khoảng 400-500 tấn vàng đang được người dân nắm giữ. Đây là một nguồn lực lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả, gây lãng phí cho nền kinh tế. Trong khi đó, vàng không chỉ là tài sản tích trữ mà còn là nguyên liệu cho sản xuất, chế tác và có thể sử dụng làm tài sản bảo đảm trong các giao dịch tín dụng.

Theo ông Hiếu, nếu cho phép doanh nghiệp vay vàng trong dân để phục vụ sản xuất, nguồn cung dồi dào sẽ giúp giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, hạ chi phí đầu vào, từ đó góp phần kéo giảm giá vàng và thúc đẩy ngành chế tác trong nước.

Tuy nhiên, vị chuyên gia cũng cảnh báo cơ chế này tiềm ẩn không ít rủi ro. Sự lệch pha giữa kỳ hạn vay và thời điểm hoàn trả có thể gây áp lực thanh khoản, trong khi biến động giá vàng khiến chi phí trả nợ tăng lên nếu giá đảo chiều. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, hoạt động vay vàng còn có nguy cơ bị biến tướng thành huy động trá hình, làm gia tăng rủi ro và thậm chí tái kích hoạt tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế.

Tương tự, TS Lê Bá Chí Nhân, chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, về bản chất, việc cho phép doanh nghiệp vay vàng trực tiếp từ người dân với lãi suất thỏa thuận không khác gì mở lại kênh tín dụng bằng vàng dưới một hình thức khác, tiềm ẩn nhiều hệ lụy hơn lợi ích.

Cơ chế này có thể kéo theo hàng loạt rủi ro vĩ mô như rủi ro hệ thống, làm suy yếu vai trò của tiền đồng và hình thành một thị trường tín dụng ngầm bằng vàng rất khó kiểm soát, khi Nhà nước khó giám sát được quy mô, dòng chảy và mức độ rủi ro.

TS Lê Bá Chí Nhân phân tích, doanh nghiệp vay vàng nhưng lại tạo ra doanh thu bằng tiền đồng, nên khi giá vàng biến động mạnh, họ không chỉ đối mặt với rủi ro kinh doanh mà còn gánh thêm rủi ro tài chính. Nếu mất khả năng thanh toán, thiệt hại sẽ chuyển sang phía người dân.

Đáng chú ý, khi vàng trở thành công cụ sinh lãi, xu hướng nắm giữ vàng có thể gia tăng thay vì gửi tiết kiệm bằng tiền đồng, đi ngược lại nỗ lực củng cố niềm tin vào đồng nội tệ của Ngân hàng Nhà nước. Đáng chú ý, việc này có thể hình thành một “thị trường tín dụng ngầm bằng vàng” rất khó kiểm soát, khi Nhà nước không thể giám sát quy mô, dòng tiền và mức độ rủi ro.

Đánh giá về kiến nghị của Hiệp hội, chuyên gia Trần Duy Phương cho rằng đây là đề xuất khó khả thi. Theo ông, vàng trong dân tồn tại dưới nhiều dạng như vàng miếng, vàng nhẫn, vàng trang sức, trong khi việc kiểm định chất lượng không hề đơn giản.

Hiện nay, ngoài vàng miếng có thương hiệu, phần lớn vàng nhẫn và vàng trang sức trên thị trường chưa có sự đồng nhất về tiêu chuẩn. Vì vậy, bài toán đặt ra là doanh nghiệp sẽ huy động loại vàng nào, có chấp nhận tất cả hay không, và khi hoàn trả, người dân sẽ nhận lại vàng dưới hình thức nào. Những vấn đề này cho thấy việc triển khai trên thực tế không hề dễ dàng.

Mấu chốt nằm ở sự chuyển hóa

Nhìn ra thế giới, nhiều quốc gia đã thử nghiệm huy động vàng trong dân. Tại Ấn Độ, chương trình Gold Monetization Scheme triển khai từ năm 2015 nhằm giảm nhập khẩu vàng và đưa vàng vào lưu thông, song hiệu quả còn hạn chế khi lượng huy động thực tế chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng vàng trong dân.

Trong khi đó, Thổ Nhĩ Kỳ được đánh giá tích cực hơn khi tích hợp huy động vàng vào hệ thống ngân hàng thông qua các tài khoản vàng và công cụ tài chính, qua đó từng bước đưa vàng vào hệ thống tài chính chính thức.

Thực tế cho thấy, điểm chung của các mô hình thành công là không dừng lại ở việc “kêu gọi” người dân gửi vàng, mà xây dựng được một hệ sinh thái giao dịch minh bạch, thuận tiện và có bảo đảm.

Trong khi đó, thị trường vàng Việt Nam vẫn chủ yếu vận hành theo cơ chế vật chất, với giao dịch vàng miếng là chủ đạo. Các công cụ tài chính như chứng chỉ vàng, giao dịch tài khoản hay phái sinh gần như chưa phát triển. Điều này khiến vàng khó trở thành một tài sản tài chính đúng nghĩa, mà vẫn bị “đóng khung” trong vai trò tích trữ.

Do đó, vấn đề cốt lõi không nằm ở việc tạo điều kiện để doanh nghiệp vay vàng trong dân, mà là tìm cách chuyển hóa nguồn vàng này thành nguồn lực cho nền kinh tế một cách an toàn, thông qua hệ thống tài chính chính thức dưới sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước.

Cùng quan điểm, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi nhấn mạnh, minh bạch thông tin là yếu tố then chốt. Doanh nghiệp cần công bố định kỳ về quy mô huy động, mục đích sử dụng và các rủi ro liên quan, đồng thời phải chịu kiểm toán độc lập để xác nhận nghĩa vụ và tài sản.

Một hướng đi phù hợp cho cơ chế huy động vàng trong dân là thí điểm với quy mô nhỏ, đối tượng hạn chế và đặt dưới sự giám sát chặt chẽ. Dù nhằm tận dụng nguồn lực trong dân, đây không phải là “đũa thần” để giải quyết ngay bài toán nguyên liệu cho ngành vàng trang sức. Nếu thiếu một thiết kế đồng bộ về pháp lý, kiểm soát rủi ro và minh bạch thông tin, chính sách này thậm chí có thể tạo ra những bất ổn lớn hơn cho thị trường.

Do đó, theo ông Huy, vấn đề không chỉ dừng ở việc “có nên hay không”, mà quan trọng hơn là “làm thế nào” để vừa khai thác hiệu quả nguồn lực vàng trong dân, vừa bảo đảm an toàn hệ thống tài chính và duy trì niềm tin của người dân.

Ở góc độ pháp lý, luật sư Thu Hà (Đoàn Luật sư Hà Nội) nhận định, đề xuất của VGTA không phải là giải pháp hiệu quả để huy động nguồn lực. Thay vì cho vay vàng, cần khuyến khích người dân chuyển hóa tài sản này thành vốn cho sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư vào các kênh như góp vốn doanh nghiệp, trái phiếu, cổ phiếu, bất động sản hay gửi tiết kiệm. Cách tiếp cận này vừa giúp đưa nguồn lực vào lưu thông, vừa hạn chế rủi ro phát sinh từ hoạt động vay mượn.

Bên cạnh đó, với đặc tính giá trị cao, gọn nhẹ và thanh khoản tốt, vàng hoàn toàn có thể được sử dụng linh hoạt trong các giao dịch bảo đảm như cầm cố, đặt cọc, ký cược cho các khoản vay hoặc nghĩa vụ dân sự, thay vì tiếp tục “nằm yên” trong két sắt.

Tựu trung lại, thị trường vàng chỉ có thể vận hành hiệu quả khi người dân tin rằng tài sản của họ được bảo vệ, thông tin minh bạch và rủi ro được kiểm soát. Theo đó, cần phát hành chứng chỉ vàng do ngân hàng hoặc cơ quan quản lý đứng ra bảo đảm, cho phép người dân gửi vàng và nhận lại giá trị tương đương mà không cần nắm giữ vật chất.

Song song với đó là xây dựng sàn giao dịch vàng tài khoản, kết nối với thị trường quốc tế, qua đó tăng tính minh bạch và giảm chênh lệch giá trong ngoài nước. Khi vàng trở thành một tài sản có thể giao dịch, sinh lời và được bảo vệ bởi hệ thống tài chính, động lực “đưa vàng ra khỏi két” sẽ tự nhiên hình thành.

Theo ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi, trong bối cảnh Việt Nam đang theo định hướng hạn chế “vàng hóa”, việc mở lại cơ chế huy động vàng cần được cân nhắc thận trọng.

Có thể bạn quan tâm

Thanh toán điện tử là xu hướng tất yếu trong quá trình hiện đại hóa giao thông. Ảnh: NGUYỆT ANH

Rà soát thu phí thanh toán điện tử giao thông

Việc các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử giao thông thông báo mức phí 6.600 đồng/tháng đối với khách hàng cá nhân và 66.000 đồng/tháng đối với doanh nghiệp đang nhận được sự quan tâm của người sử dụng. Trước những băn khoăn về cơ sở, mục đích và mức độ phù hợp của khoản thu, cơ quan quản lý đã yêu cầu rà soát, bảo đảm hoạt động thu phí đúng quy định, công khai, minh bạch và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, người dân vẫn quen với các giao dịch bằng tiền mặt.

Ngoại lệ của tiền mặt

Cho phép doanh nghiệp trả lương bằng tiền mặt tại vùng khó khăn là một sự điều chỉnh cần thiết khi hạ tầng ngân hàng chưa theo kịp đời sống. Tuy nhiên, ngoại lệ này chỉ thật sự hợp lý nếu vừa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, vừa giúp doanh nghiệp chứng minh chi phí hợp pháp, đồng thời không tạo thêm khoảng trống để kê khống, trốn thuế.

“Tay to” cá nhân

Trước đây, khi nhắc đến những nhà đầu tư (NĐT) lớn trên thị trường chứng khoán (TTCK), hay còn gọi là “tay to”, nhiều người sẽ nghĩ đến các quỹ ngoại, doanh nghiệp lớn, khối tự doanh của công ty chứng khoán… Còn NĐT cá nhân thường là NĐT nhỏ lẻ. Nhưng khoảng nửa thập kỷ gần đây, đã xuất hiện những NĐT cá nhân có quy mô giao dịch không thua gì các “tay to”.

Dự án mở rộng đường cao tốc đoạn Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành đang được đẩy nhanh tiến độ. Ảnh: VIẾT DŨNG

Hạ tầng mở đường cho tăng trưởng

Khi những tuyến đường, sân bay và công trình kết nối lần lượt về đích, kỳ vọng lớn hơn không chỉ là thêm những công trình mới mà là mở rộng không gian kinh tế, giảm chi phí và tạo động lực phát triển.

Du lịch và KOL, KOC

Các KOL (cá nhân có ảnh hưởng với công chúng) và KOC (người tiêu dùng có tầm ảnh hưởng) đang hiện diện ngày một nhiều hơn trong các lĩnh vực, mà du lịch là một minh chứng rõ nét.

Cá ngừ đóng hộp và các sản phẩm đông lạnh tiêu chuẩn chịu nhiều áp lực cạnh tranh. Ảnh: NAM ANH

Xuất khẩu chật vật giữ đơn hàng

Xuất khẩu tiếp tục lập kỷ lục, nhưng doanh nghiệp đang đứng trước sức ép ngày càng lớn từ chính sách thuế mới của Mỹ. Bài toán giữ đơn hàng và duy trì sức cạnh tranh ngày càng khó khăn.

Việt Nam cần đồng thời giải quyết nhiều bài toán để BESS thật sự trở thành một thị trường.

Cần cú huých cho thị trường pin lưu trữ

Sự phát triển nhanh của năng lượng tái tạo (NLTT) đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển thị trường pin lưu trữ năng lượng (BESS) - công nghệ cho phép tích trữ điện khi nguồn dồi dào và phát lại khi nhu cầu tăng cao, qua đó cân bằng cung - cầu và nâng cao độ ổn định của hệ thống điện.

Một buổi bán hàng trực tuyến của doanh nghiệp. Ảnh: NAM ANH

Bán hàng trực tuyến đổi cách giữ khách

Sức mua trực tuyến vẫn tăng nhưng tốc độ đã chậm lại. Doanh nghiệp chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang tạo giá trị, xây dựng thương hiệu và thấu hiểu khách hàng bằng dữ liệu.

Câu chuyện nâng hạng thị trường tiếp tục là chất xúc tác trung hạn quan trọng. Ảnh: NGUYỆT ANH

Thị trường giằng co, cơ hội vẫn hiện diện

Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn giằng co khi thanh khoản suy yếu và chi phí vốn tiếp tục gây sức ép. Dù vậy, định giá hấp dẫn, tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp và câu chuyện nâng hạng vẫn được xem là những động lực đáng chú ý cho giai đoạn tới.

Khi cổ đông lớn lãi lớn

Hơn một tháng trước, khi VN-Index giảm xuống dưới ngưỡng 1.700 điểm, đồng loạt cổ đông lớn, lãnh đạo doanh nghiệp (DN) đăng ký mua vào cổ phiếu (CP). Và khi VN-Index tăng trở lại mốc 1.800 điểm trong phiên giao dịch hôm qua 26/8, rất nhiều người đã lãi lớn. Nhưng trong lần gom mua này còn có nhiều điểm đáng nói chứ không chỉ riêng vấn đề lợi nhuận.

Tạo sức hút cho ẩm thực dân gian

Ẩm thực dân gian là một phân khúc giàu tiềm năng trong lĩnh vực kinh doanh ẩm thực. Việt Nam có một nền ẩm thực phong phú, đặc sắc, trong đó nhiều món ăn được chế biến từ nguyên liệu thuần tự nhiên. Điều này lại đang phù hợp với xu hướng "eat clean" - tức ăn sạch, ăn thuần tự nhiên đang được nhiều người lựa chọn hiện nay. Tuy nhiên, khi lựa chọn ẩm thực dân gian, người kinh doanh không thể chỉ dừng lại ở bài toán kinh tế.

Thị trường vàng cần tiến thêm một bước từ truy vết giao dịch sang truy xuất sản phẩm.

Thị trường vàng cần sự cân bằng bền vững

Sau nhiều năm, khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới đã thu hẹp về mức dưới 5 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, chưa thể chỉ dựa vào mức chênh lệch thu hẹp để kết luận thị trường đã hoàn toàn lành mạnh. Một trạng thái thị trường cân bằng bền vững còn là vận hành sát hơn với giá trị thật và giảm bớt tác động lên các cân đối lớn của nền kinh tế.

Tận dụng các ưu đãi từ FTA giúp doanh nghiệp duy trì đơn hàng và sức cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu. Ảnh: NAM ANH

Mở rộng không gian phát triển từ hội nhập

Việt Nam đã ký kết và thực thi 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 60 đối tác, song chỉ 21,6% số doanh nghiệp cho biết hiểu rõ hoặc rất rõ về các FTA. Điều này cho thấy, dư địa nâng cao hiệu quả tận dụng và thực thi FTA còn lớn.

Chủ đề Xây dựng mô hình phát triển mới thu hút nhiều ý kiến tại hội thảo.

Kỳ vọng mô hình mới khơi sức mạnh nội sinh

Mô hình phát triển mới phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng; giữa hiệu quả kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; giữa phát triển kinh tế-xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh. Giá trị văn hóa, nguồn lực con người và sự ổn định xã hội phải trở thành sức mạnh nội sinh của phát triển đất nước.

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao làm chủ các công nghệ để phát triển. Ảnh: NAM HẢI

Kinh tế số trước ngưỡng tăng trưởng mới

Kinh tế số đóng góp 14,02% GDP năm 2025, nhưng mục tiêu đến năm 2030 là tối thiểu 30%. Để thu hẹp khoảng cách này, Việt Nam cần tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực.

GS, TS Nguyễn Văn Nội (đứng giữa) cùng với sinh viên trong phòng thí nghiệm.

Tạo mắt xích nối nghiên cứu với thị trường

Việc hình thành các phòng thí nghiệm (PTN) trọng điểm, trung tâm nghiên cứu và thử nghiệm trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược được kỳ vọng tạo hạ tầng kết nối từ nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm định đến thương mại hóa sản phẩm. Đây cũng là nền tảng để nâng cao năng lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và từng bước tăng cường tự chủ công nghệ quốc gia.

Trong giai đoạn tuần đầu tháng 8, tỷ giá có xu hướng giảm. Ảnh: NAM ANH

Tỷ giá hạ nhiệt, áp lực USD giảm

Sau giai đoạn chịu nhiều sức ép, tỷ giá USD/VND đang hạ nhiệt nhờ nguồn cung ngoại tệ cải thiện, chênh lệch lãi suất và dư địa điều hành chính sách. Các yếu tố này được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ tỷ giá trong những tháng cuối năm.

Chấp nhận thực tế, thay đổi thói quen

VN-Index khởi đầu tháng 5 ở mức hơn 1.850 điểm và kết thúc tháng ở mức hơn 1.860 điểm. Diễn biến của thị trường chứng khoán (TTCK) trong tháng 5/2026 khá cân bằng khi cơ hội song hành với rủi ro và không hề có hiệu ứng “Sell in May” (bán vào tháng 5).

Hiệu ứng từ lễ hội nông sản

Lễ hội sầu riêng Đắk Lắk diễn ra từ ngày 15/8 đến 2/9, bắt đầu từ cuối tuần qua đã ghi nhận sự bùng nổ về số lượng người tham gia. Các khách sạn khu vực phường Buôn Ma Thuột cũng như các phường lân cận đều cháy phòng, đường phố đông đúc người và... xe bán tải chở sầu riêng.

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

Vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, duy trì hiệu quả sinh lời thuộc nhóm dẫn đầu và liên tiếp được các tổ chức tài chính quốc tế ghi nhận, HDBank đang cho thấy bước chuyển rõ nét về chất lượng tăng trưởng. Mới đây, ngân hàng được Vietnam Report xếp hạng dẫn đầu Top 50 công ty đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50).

Thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính. Ảnh: NAM ANH

Giảm áp lực tín dụng ngân hàng

Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động tiền gửi đang tạo ra áp lực thanh khoản lớn cho hệ thống ngân hàng. Thực tế này buộc nền kinh tế phải chuyển dịch sang cấu trúc tài chính đa tầng, phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các kênh đầu tư xanh nhằm giảm tải cho tín dụng ngắn hạn và khơi thông nguồn vốn dài hạn bền vững.

Sau chỉ đạo, thị trường đã ghi nhận làn sóng điều chỉnh lãi suất cho vay với mức giảm từ 0,5-2,5% so năm trước. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hỗ trợ nền kinh tế bằng chi phí vốn

Yêu cầu giảm lãi suất cho vay trong bối cảnh chi phí vốn còn cao đặt ngành ngân hàng trước bài toán nan giải. Tuy nhiên, với nền tảng lợi nhuận tích cực cùng những thành quả về số hóa và nâng cao năng suất, đã đến lúc các ngân hàng chuyển hóa dư địa này thành chi phí vốn thấp hơn cho nền kinh tế.

Dây chuyền ứng dụng giải pháp A.I VISION sắp xếp và phân loại sản phẩm của Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông. Ảnh: NAM HẢI

Phân bổ nguồn lực hiệu quả để thúc đẩy năng suất

Việt Nam có tỷ lệ đầu tư khoảng 32% GDP nhưng tăng trưởng năng suất lao động chỉ khoảng 0,9%. Hiệu quả phân bổ và khả năng hấp thụ nguồn lực đang trở thành yếu tố quyết định chuyển hóa tiềm lực thành năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Không được kèm sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc với việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng dưới mọi hình thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Ngăn chặn “bán kèm” sản phẩm theo dịch vụ ngân hàng

Dù đã có quy định cấm ngân hàng gắn bảo hiểm không bắt buộc với khoản vay, chế tài xử phạt cũng lên tới 500 triệu đồng, nhưng tình trạng “bia kèm lạc” vẫn tiếp tục được các đại biểu Quốc hội cảnh báo và đề nghị có biện pháp ngăn chặn hiệu quả hơn.

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Đi ngang nhưng biến động mạnh

Các biến động cực mạnh trong ngắn hạn của VN-Index cùng một số cổ phiếu (CP) sẽ là thách thức cực lớn cho các nhà đầu tư (NĐT) muốn tìm kiếm lợi nhuận, hoặc đơn thuần chỉ là bảo vệ tài sản.