Tăng cường tính minh bạch cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Báo cáo Chính phủ về việc triển khai nhiệm vụ quản lý, giám sát và thanh tra, kiểm tra việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) mới đây của Bộ Tài chính cho biết, trên thị trường sơ cấp, năm 2021 có tổng khối lượng phát hành tăng tới 38,8% so năm 2020 với 639.766 tỷ đồng, chủ yếu là trái phiếu phát hành riêng lẻ. Tổng khối lượng TPDN chào bán ra công chúng trong năm 2021 đạt 34.146 tỷ đồng, tăng 11,8% so năm 2020.

Nhiều doanh nghiệp bất động sản sử dụng nguồn vốn trái phiếu để phát triển dự án.
Nhiều doanh nghiệp bất động sản sử dụng nguồn vốn trái phiếu để phát triển dự án.

Bộ Tài chính cũng cho biết, đến cuối năm 2021, quy mô thị trường TPDN tương đương 18,2% GDP, tăng 42,4% so cuối năm 2020 (17,11% GDP), trong đó quy mô thị trường TPDN riêng lẻ đạt 16,84% GDP, tăng 40,5% so năm 2020. Bước sang các tháng đầu năm 2022, khối lượng TPDN phát hành riêng lẻ đạt 104.752 tỷ đồng, gấp ba lần so cùng kỳ năm 2021. Khối lượng phát hành tập trung chủ yếu trong tháng 1, trước thời điểm quy định việc tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua, bán TPDN của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực và ngay lập tức, trong các tháng tiếp theo, khối lượng phát hành TPDN riêng lẻ đã giảm dần.

“Tiếp tay” phát hành trái phiếu sai luật

Báo cáo của Bộ Tài chính cũng chỉ ra những vấn đề nổi cộm về các doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Xét về loại hình doanh nghiệp thì các công ty đại chúng chiếm 47,17% tổng khối lượng phát hành; công ty cổ phần chưa đại chúng chiếm 41,79% và công ty TNHH chiếm 11,04%. Xét về lĩnh vực hoạt động, các TCTD có lượng phát hành lớn nhất, chiếm tới 36,18% tổng khối lượng phát hành. Doanh nghiệp bất động sản (BĐS) chiếm 33,16%; các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, sản xuất và xây dựng chiếm lần lượt 5,5%, 4,59% và 3,19% tổng khối lượng phát hành.

Theo đánh giá của Bộ Tài chính, các doanh nghiệp phát hành trái phiếu chủ yếu là nhằm tăng vốn hoạt động, chiếm 44,49% tổng khối lượng trái phiếu phát hành. Có 19,10% số trái phiếu phát hành để thực hiện dự án, 4,52% được sử dụng cho mục đích cơ cấu lại nguồn vốn; 29,29% khối lượng trái phiếu phát hành được sử dụng kết hợp các mục đích. Năm 2022, các doanh nghiệp BĐS và xây dựng là hai nhóm phát hành nhiều nhất, chiếm lần lượt 45,1% và 22,1%. Các doanh nghiệp thương mại dịch vụ chiếm 9,5%, doanh nghiệp sản xuất chiếm 9,5%.

Trong khi đó, năm 2021 trái phiếu do các doanh nghiệp bất động sản, xây dựng phát hành lại có tới 88,2% khối lượng phát hành có tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh thanh toán và tài sản bảo đảm chủ yếu là BĐS, các chương trình, dự án. Theo đó, mặc dù tỷ lệ trái phiếu có tài sản bảo đảm cao nhưng chất lượng tài sản bảo đảm chủ yếu là các dự án, tài sản hình thành trong tương lai hoặc cổ phiếu của các doanh nghiệp trong lĩnh vực BĐS. Trường hợp thị trường BĐS khó khăn, giá trị tài sản bảo đảm có thể không đủ để thanh toán gốc, lãi trái phiếu.

Đánh giá về nhà đầu tư, Bộ Tài chính chỉ rõ, trên thị trường sơ cấp năm 2021, các nhà đầu tư trong nước mua 98,55% khối lượng TPDN phát hành riêng lẻ, nhà đầu tư nước ngoài chiếm 1,45%. Các TCTD và công ty chứng khoán là nhà đầu tư chính, mua lần lượt 37,87% và 34,47% tổng khối lượng phát hành; các nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp mua 5,39%. Các TCTD chủ yếu mua trái phiếu do các TCTD khác và doanh nghiệp bất động sản phát hành. TCTD là nhà đầu tư chính của trái phiếu BĐS, xây dựng và sản xuất, chiếm lần lượt 41,26%, 40,99% và 55,46% khối lượng phát hành của mỗi nhóm. Nhà đầu tư cá nhân (trên thị trường sơ cấp) chủ yếu mua trái phiếu của doanh nghiệp BĐS, công ty chứng khoán và TCTD. Các tháng đầu năm 2022, nhà đầu tư chính mua TPDN riêng lẻ là các TCTD, chiếm 41,5% tổng khối lượng phát hành, các công ty chứng khoán mua 18,4%; nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp mua 9,5%.

Trên thị trường thứ cấp, tỷ lệ mua của các TCTD và nhà đầu tư cá nhân cao hơn trên thị trường sơ cấp. Cuối năm 2021, tỷ trọng nắm giữ của các TCTD là 61,57% tổng khối lượng trái phiếu lưu ký đã phát hành trong năm. Như vậy, phần lớn trái phiếu được các công ty chứng khoán mua trên thị trường sơ cấp và phân phối lại cho TCTD, nhà đầu tư cá nhân và các tổ chức khác. TCTD và nhà đầu tư cá nhân là người mua chính TPDN phát hành trong năm 2021 chiếm trên 80%, khoảng 20% còn lại là do các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm và các tổ chức khác mua. Tính chung toàn thị trường TPDN riêng lẻ, các TCTD nắm giữ 44,46% tổng khối lượng trái phiếu lưu ký và có khoảng 30% do các tổ chức phi tài chính, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm nắm giữ. Việc có mặt doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường TPDN đã được Bộ Tài chính ghi nhận.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giao dịch

Với thực tế trên, đánh giá chung về tình hình thị trường TPDN, Bộ Tài chính cho rằng, trong năm 2021, thị trường TPDN vẫn tiếp tục là kênh huy động vốn quan trọng của các doanh nghiệp. Mặc dù nền kinh tế chịu ảnh hưởng lớn của dịch bệnh, các doanh nghiệp vẫn lựa chọn kênh phát hành trái phiếu để huy động vốn với khối lượng phát hành tăng 40,36% so năm 2020. Khối lượng đăng ký chào bán TPDN ra công chúng năm 2021 tăng cao nhất từ trước tới nay, đạt 51.125 tỷ đồng, tăng 51,8% so năm 2020; khối lượng phát hành thực tế tăng 11,8%, chiếm 5,3% tổng khối lượng phát hành. 

Nhận xét về thực tế này, Thứ trưởng Tài chính Nguyễn Đức Chi cho rằng, khối lượng giao dịch trên thị trường TPDN thứ cấp, bao gồm cả TPDN niêm yết và TPDN phát hành riêng lẻ, đều tăng so năm 2020. Trong quý I/2022, các doanh nghiệp đã chào bán 5.486 tỷ đồng TPDN ra công chúng, cho thấy nhu cầu giao dịch TPDN trên thị trường tương đối lớn, việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống giao dịch TPDN tại Sở Giao dịch chứng khoán (GDCK) là cần thiết để vừa tăng cường tính minh bạch của thị trường, vừa thúc đẩy thanh khoản trái phiếu. 

Theo Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi, trong đà tăng trưởng đó, các cơ quan quản lý càng phải nhìn nhận rõ những rủi ro tiềm ẩn để có giải pháp điều hành phù hợp, khi rõ ràng trên thị trường TPDN đã xuất hiện những vấn đề mới, chỉ có từ 2021 trở lại đây. Trong những rủi ro tiềm ẩn trên thị trường, rủi ro về nhà đầu tư TPDN riêng lẻ rất đáng quan tâm. Mặc dù trên thị trường sơ cấp, tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân mua TPDN riêng lẻ giảm mạnh so năm 2020 nhưng trên thị trường thứ cấp tỷ trọng mua của các nhà đầu tư cá nhân lên tới mức 19% tổng khối lượng phát hành.

Không những thế, để chào mời, mua TPDN riêng lẻ cho nhà đầu tư cá nhân, thị trường đã xuất hiện nhiều cách thức “lách” quy định của pháp luật về nhà đầu tư chứng khoán riêng lẻ. Đã có nhiều nhà đầu tư cá nhân được xác nhận là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp (hiệu lực trong vòng 1 năm) bằng hợp đồng mua kỳ hạn TPCP hoặc chứng khoán niêm yết trong thời gian từ 2-4 ngày. Đã có tình trạng nhà đầu tư cá nhân sử dụng tài khoản vay ký quỹ để chứng minh danh mục chứng khoán niêm yết đang nắm giữ có giá trị hơn 2 tỷ đồng nhưng thực tế số vốn tự có thấp hơn. Đã có cá nhân không trực tiếp đứng tên mua trái phiếu mà ký hợp đồng dân sự với công ty chứng khoán hoặc doanh nghiệp khác để mua TPDN riêng lẻ.

Trong số 358 doanh nghiệp phát hành TPDN riêng lẻ năm 2021, có 57 doanh nghiệp có kết quả kinh doanh lỗ trước khi phát hành. 45 doanh nghiệp có hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu lớn hơn 10 và 10 doanh nghiệp phát hành có tỷ lệ khối lượng phát hành gấp hơn 5 lần vốn chủ sở hữu. Một số doanh nghiệp phát hành để góp vốn, mua cổ phần, mua trái phiếu của doanh nghiệp khác hoặc cho doanh nghiệp khác vay vốn; hoặc phát hành để chuyển vốn “lòng vòng” nhằm lách quy định về giới hạn cho vay/đầu tư TPDN của TCTD đối với một khách hàng/nhóm khách hàng.

Trên thị trường có hiện tượng các doanh nghiệp chào bán công khai TPDN phát hành riêng lẻ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trái phiếu được chào bán là trái phiếu có lãi suất cao (11%-12%/năm), thông tin chào bán do chính tổ chức phát hành trực tiếp chào mời trên thị trường sơ cấp. Ngay cả các tổ chức cung cấp dịch vụ cũng có nhiều vấn đề, như tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu là công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ tư vấn, rà soát, hỗ trợ xây dựng hồ sơ chào bán TPDN riêng lẻ đáp ứng quy định về điều kiện và hồ sơ chào bán trái phiếu và có trách nhiệm rà soát, bảo đảm tính tuân thủ của hồ sơ. Tuy nhiên, có hiện tượng một số tổ chức tư vấn xây dựng hồ sơ chào bán có lợi cho doanh nghiệp để huy động vốn mà không cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin công bố cho nhà đầu tư. Hay một số tổ chức đại lý phát hành, tổ chức đăng ký lưu ký đã cung cấp các dịch vụ để hợp thức hóa hồ sơ xác nhận nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp nhằm chào mời nhà đầu tư cá nhân mua TPDN riêng lẻ.

Rõ ràng, các quy định pháp lý hiện có chưa đủ sức răn đe, còn có những nội dung không còn phù hợp thực tiễn, tạo kẽ hở cho một số tổ chức, “lách kẽ”, vi phạm pháp luật, lũng đoạn thị trường. Thị trường TPDN hiện đang rất cần những quy định, giải pháp có tính pháp lý cao, có tầm bao quát rộng hơn, quy định chặt chẽ hơn đủ hiệu lực bóc tách, ngăn chặn những bất cập, sơ hở nguy cơ cản trở con đường tiếp cận nguồn vốn cần có của các doanh nghiệp trong nước, bảo đảm sự phát triển lành mạnh, minh bạch của thị trường. 

Có thể bạn quan tâm

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

HDBank gia nhập nhóm ngân hàng quy mô tài sản hơn 1 triệu tỷ đồng

Vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tổng tài sản, duy trì hiệu quả sinh lời thuộc nhóm dẫn đầu và liên tiếp được các tổ chức tài chính quốc tế ghi nhận, HDBank đang cho thấy bước chuyển rõ nét về chất lượng tăng trưởng. Mới đây, ngân hàng được Vietnam Report xếp hạng dẫn đầu Top 50 công ty đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50).

Thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính. Ảnh: NAM ANH

Giảm áp lực tín dụng ngân hàng

Tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động tiền gửi đang tạo ra áp lực thanh khoản lớn cho hệ thống ngân hàng. Thực tế này buộc nền kinh tế phải chuyển dịch sang cấu trúc tài chính đa tầng, phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các kênh đầu tư xanh nhằm giảm tải cho tín dụng ngắn hạn và khơi thông nguồn vốn dài hạn bền vững.

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Khách xếp hàng để mua bán vàng . Ảnh: NGUYỆT ANH

Cuộc đại phẫu thị trường vàng

Cơn sóng bán vàng những ngày gần đây phơi bày những điểm yếu lâu năm về thanh khoản, nguồn gốc hàng hóa và cơ chế định giá. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trước khi đạt được đích đến, một thị trường thực sự minh bạch, liên thông và bớt méo mó.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.

Người trẻ mua chứng chỉ quỹ

Công ty chứng khoán (CTCK) SSI vừa công bố việc tích hợp các quỹ mở do Dragon Capital Việt Nam (DCVFM) quản lý lên hệ thống giao dịch SSI iBoard. Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư (NĐT) có tài khoản của SSI ngoài việc theo dõi các chứng chỉ quỹ (CCQ) của SSI quản lý còn theo dõi được thêm CCQ của DCVFM.

Hàng tồn kho là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận chưa thể chuyển hóa thành tiền mặt. Ảnh: NAM ANH

Dòng tiền mới là phép thử

Dù lợi nhuận vẫn hiện hữu trên báo cáo tài chính, nhưng dòng tiền kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bất động sản lại tiếp tục âm. Khoảng cách kéo dài giữa “lãi trên sổ sách” và “tiền thật” có thể biến thành áp lực thanh khoản, đặc biệt với doanh nghiệp có nợ ngắn hạn lớn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nút thắt “tiêu chí” của dòng vốn xanh

Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH

“Hòn đá tảng” của thị trường chứng khoán

Trong các báo cáo phân loại thị trường hằng năm, tình trạng hết tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room ngoại) liên tục được một công ty tài chính đa quốc gia (MSCI - Mỹ) nhắc đến như một hạn chế lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nhà đầu tư tìm hiểu thông tin về dự án tại sàn giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Bất động sản không còn là cuộc chơi của kỳ vọng

Sau một chu kỳ tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự thay đổi tâm lý của nhà đầu tư, từ kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá sang tìm kiếm dòng tiền khai thác. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã không còn tin tuyệt đối vào khả năng tăng giá liên tục của bất động sản.

Tư vấn cho khách hàng vay mua bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn đang được phân loại theo giá trị

Nếu trước đây tín dụng bất động sản chủ yếu được nhìn dưới góc độ rủi ro và cần kiểm soát chặt, thì quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ nhu cầu thực như nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính Mỹ vừa công bố Tuyên bố chung về tiền tệ, tái khẳng định cam kết hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ Đối thoại Chính sách Tài chính vĩ mô Việt Nam - Mỹ, nhấn mạnh việc tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế liên quan chính sách tỷ giá và tiền tệ.

Mới nhưng không lạ

Có thể nói, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang ở giai đoạn phân hoá khốc liệt bậc nhất trong lịch sử. 

Nhiều ngân hàng lớn đang chuẩn bị triển khai các kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh trái phiếu. Ảnh: NAM ANH

Sự đảo chiều trên thị trường trái phiếu

Ngân hàng vốn được xem là khu vực “khỏe” nhất trên thị trường vốn, nhưng nay cũng đã bước vào cuộc đua huy động trái phiếu với mức lãi suất tiệm cận lãi vay. Nhiều đợt phát hành trái phiếu gần đây của các ngân hàng ghi nhận lãi suất lên tới 8-9%/năm, cao hơn đáng kể so cùng kỳ năm trước.

Các hãng hàng không linh hoạt áp dụng nhiều giải pháp để tiết giảm chi phí. Ảnh: KỲ DUYÊN

Kích cầu hàng không, du lịch để thúc đẩy tăng trưởng

Cú sốc giá nhiên liệu đặt các hãng hàng không và lữ hành đứng trước thử thách mới, không chỉ là cạnh tranh về giá mà phải xem xét trong tổng thể chuỗi vận tải-lưu trú-dịch vụ-điểm đến và đặc biệt là phải xây dựng nền tảng phát triển bền vững để thích ứng tốt hơn trong bối cảnh thị trường liên tục thay đổi.

Đừng chủ quan với “hàng cơ bản”

“Hàng cơ bản” là khái niệm chỉ cổ phiếu (CP) của doanh nghiệp (DN) có vị thế đầu ngành, thương hiệu lớn và nền tảng kinh doanh vững chắc. Nhưng trong thời gian gần đây, không ít hàng cơ bản vẫn có thể giảm giá 15-20% chỉ trong thời gian ngắn, đưa không ít nhà đầu tư (NĐT) vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Tính đến nay, đã có 42 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất lại gặp áp lực

Khi tín dụng tăng nhanh còn tiền gửi tăng chậm, áp lực lãi suất bắt đầu quay lại hệ thống ngân hàng. Ở mặt khác, ngân hàng đang chịu áp lực phải bảo đảm mức lãi vay ở mức thấp nhất có thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.

Những dự án được đầu tư hạ tầng đồng bộ thường ghi nhận giá trị bất động sản tăng rõ rệt. Ảnh: NAM ANH

“Cơn sốt” kỳ vọng của bất động sản

Liên tiếp các dự án hạ tầng lớn được công bố, giá chào bán bất động sản tại nhiều nơi bị đẩy lên cao. Các chuyên gia cảnh báo, thị trường đang được dẫn dắt bởi kỳ vọng nhiều hơn nền tảng.