Khoảng cách chính sách khoa học và công nghệ

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) được xác định là lực lượng nòng cốt của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, từ công nhận danh hiệu đến thụ hưởng ưu đãi, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp không ít rào cản.

Cần có những chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp khoa học công nghệ phát triển. Ảnh: NAM ANH
Cần có những chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp khoa học công nghệ phát triển. Ảnh: NAM ANH

Trong bối cảnh Việt Nam chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, vai trò của doanh nghiệp KH&CN ngày càng được khẳng định. Đây là lực lượng trực tiếp thương mại hóa kết quả nghiên cứu, biến tri thức thành của cải vật chất, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Vai trò then chốt của doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Nhiều nghị quyết, chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh yêu cầu lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp KH&CN giữ vai trò then chốt. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp cận của doanh nghiệp vẫn là một điểm nghẽn dai dẳng, ảnh hưởng trực tiếp đến động lực đầu tư cho nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo.

Doanh nghiệp KH&CN được xem là “đầu tàu” trong nền kinh tế tri thức, là chủ thể đưa các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường. Không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ, nhiều doanh nghiệp KH&CN còn trực tiếp tạo ra công nghệ mới, giải quyết các bài toán lớn của nền kinh tế và xã hội.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, cả nước có gần 1.000 doanh nghiệp KH&CN. Ở nhiều doanh nghiệp, doanh thu từ các sản phẩm do chính doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển chiếm từ 60-90%. Một số lĩnh vực đã hình thành các thương hiệu công nghệ Việt Nam có vị thế nhất định như y sinh, vi mạch bán dẫn, công nghệ thông tin, công nghệ nông nghiệp, môi trường.

Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan với hơn 900.000 doanh nghiệp đang hoạt động, doanh nghiệp KH&CN hiện mới chỉ chiếm khoảng 1%. Theo ông Trần Xuân Đích, Phó Cục trưởng Phát triển thị trường và Doanh nghiệp KH&CN (Bộ KH&CN), Việt Nam vẫn thiếu những doanh nghiệp KH&CN quy mô lớn, có sức dẫn dắt, có khả năng cạnh tranh và định hình xu hướng trên phạm vi khu vực và toàn cầu. Đây là khoảng trống lớn cần sớm được lấp đầy nếu muốn hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.

“Trong bối cảnh mới, doanh nghiệp KH&CN phải là “đội quân tiên phong” của nền kinh tế tri thức, là lực lượng trực tiếp tạo dựng tương lai công nghệ của đất nước, góp phần đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu”, ông Trần Xuân Đích nhấn mạnh.

Thành lập năm 2023, Công ty cổ phần Tập đoàn VGreen lựa chọn hướng đi dựa trên nghiên cứu khoa học chuyên sâu về Kombucha, kết hợp nông sản với dược liệu và lợi thế bản địa của Việt Nam. Doanh nghiệp từng bước xây dựng hệ sinh thái sản phẩm ứng dụng công nghệ cao, một số sản phẩm đã được đăng ký đề tài khoa học tại Sở KH&CN Thái Nguyên. Năm 2025, doanh nghiệp này đã chính thức được công nhận là doanh nghiệp KH&CN.

Theo bà Trần Thanh Việt, Nhà sáng lập VGreen, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu doanh nghiệp không đầu tư nghiên cứu, không ứng dụng khoa học - công nghệ thì rất khó tồn tại và phát triển bền vững. “VGreen kiên định lựa chọn khoa học - công nghệ làm nền tảng phát triển, dù con đường này đòi hỏi nhiều nguồn lực và sự kiên trì. Dù còn rất nhiều khó khăn chúng tôi vẫn tin tưởng vào sự ủng hộ từ các chính sách của Đảng và Nhà nước”, bà Việt nói.

Gỡ khó cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Hệ thống chính sách hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN của Nhà nước thời gian qua đã có nhiều điều chỉnh theo hướng cởi mở, đồng bộ hơn, bao gồm các ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vấn đề lớn nhất không nằm ở việc thiếu chính sách, mà ở khả năng tiếp cận và thụ hưởng chính sách của doanh nghiệp. Bà Trần Thanh Việt cho biết, sau khi được công nhận là doanh nghiệp KH&CN, VGreen vẫn gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận vốn ưu đãi và triển khai các cơ chế hỗ trợ.

“Chính sách đã có, nhưng hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp biết phải làm gì, làm như thế nào để được hưởng ưu đãi thì vẫn còn chung chung”, bà Việt chia sẻ.

Theo ông Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng KH&CN, Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam, có không ít doanh nghiệp đạt tiêu chí thực chất của doanh nghiệp KH&CN nhưng không mặn mà đăng ký, bởi họ chưa nhìn thấy lợi ích rõ ràng và thiết thực từ danh hiệu này.

Một nguyên nhân khác là năng lực tổ chức thực thi chính sách ở một số địa phương còn hạn chế. Việc thẩm định các dự án công nghệ đòi hỏi đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu, am hiểu công nghệ, trong khi thực tế không phải địa phương nào cũng đáp ứng được yêu cầu này. Điều đó khiến quá trình công nhận doanh nghiệp KH&CN và triển khai chính sách ưu đãi bị chậm trễ, làm giảm động lực của doanh nghiệp.

Từ phía doanh nghiệp, ông Đoàn Nam Thái, Giám đốc TNHH Công nghệ và Tự động hóa AVATECH cho biết, doanh nghiệp của ông đang phát triển các hệ thống máy kiểm tra công nghiệp ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dành nhiều nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển, rất mong muốn trở thành doanh nghiệp KH&CN. Tuy nhiên, quá trình đăng ký phải trải qua nhiều khâu, nhiều vòng thẩm định, trong khi một số doanh nghiệp đã chờ đợi rất lâu vẫn chưa hoàn tất thủ tục.

“Hiện chúng tôi và nhiều doanh nghiệp khác trong lĩnh vực công nghệ đang gặp khó trong việc hoàn thiện các quy định trở thành doanh nghiệp KH&CN do thiếu những hướng dẫn cụ thể và thiếu nguồn lực hỗ trợ”, ông Thái nói.

Không chỉ dừng lại ở thủ tục hành chính, một khó khăn mang tính dài hạn khác là bài toán thị trường. Sản phẩm khoa học - công nghệ thường có tính mới, khác biệt so với sản phẩm truyền thống, đòi hỏi chi phí lớn cho truyền thông, xây dựng nhận thức và niềm tin của người tiêu dùng. Trong khi đó, chính sách hỗ trợ hiện nay chủ yếu tập trung vào vốn và thuế, chưa chú trọng đúng mức tới hỗ trợ truyền thông, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường cho sản phẩm công nghệ.

Từ thực tiễn này, các chuyên gia cho rằng, trong giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục hoàn thiện chính sách, mà quan trọng hơn là đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng tính minh bạch và nâng cao vai trò đồng hành của cơ quan quản lý nhà nước. Các bộ, ngành liên quan cần sớm ban hành những văn bản hướng dẫn cụ thể, mang tính “cầm tay chỉ việc”, để doanh nghiệp dễ được công nhận và dễ dàng tiếp cận các ưu đãi.

Theo ông Trần Xuân Đích, doanh nghiệp KH&CN cần được giải phóng khỏi những rào cản hành chính không cần thiết, để nguồn lực mà doanh nghiệp đã đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo được phát huy hiệu quả.

“Chỉ khi doanh nghiệp dễ tiếp cận, dễ thụ hưởng và cảm nhận được lợi ích thực chất, doanh nghiệp KH&CN mới thật sự trở thành lực lượng nòng cốt của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia”, ông Đích khẳng định.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc tháo gỡ các điểm nghẽn cho doanh nghiệp KH&CN không chỉ là yêu cầu trước mắt, mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đây chính là chìa khóa để biến chủ trương, chính sách thành động lực thật sự cho tăng trưởng, và để doanh nghiệp KH&CN trở thành biểu tượng của tinh thần tự cường, tự chủ công nghệ của đất nước.

Ông Nguyễn Quân, Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam: “Các ưu đãi quan trọng nhất như thuế, đất đai, tín dụng, vốn được kỳ vọng tạo “cú huých” cho doanh nghiệp nhưng trên thực tế lại là những chính sách khó tiếp cận nhất do thiếu hướng dẫn chi tiết, thủ tục phức tạp và thời gian xét duyệt kéo dài”.

Có thể bạn quan tâm

Việc nâng hạng lên thị trường chứng khoán mới nổi là môi trường thuận lợi cho cả đầu tư dài hạn lẫn giao dịch ngắn hạn. Ảnh: NAM ANH

Chứng khoán đem cơ hội cho tích lũy

Diễn biến thận trọng cùng sự phân hóa sâu sắc của VN-Index thời gian qua đang phản ánh rõ tâm lý phòng thủ của giới đầu tư. Các chuyên gia nhận định thị trường chứng khoán hiện tại đã lùi về vùng định giá hấp dẫn, mở ra cơ hội đầu tư trong dài hạn.

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Khách xếp hàng để mua bán vàng . Ảnh: NGUYỆT ANH

Cuộc đại phẫu thị trường vàng

Cơn sóng bán vàng những ngày gần đây phơi bày những điểm yếu lâu năm về thanh khoản, nguồn gốc hàng hóa và cơ chế định giá. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trước khi đạt được đích đến, một thị trường thực sự minh bạch, liên thông và bớt méo mó.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.

Người trẻ mua chứng chỉ quỹ

Công ty chứng khoán (CTCK) SSI vừa công bố việc tích hợp các quỹ mở do Dragon Capital Việt Nam (DCVFM) quản lý lên hệ thống giao dịch SSI iBoard. Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư (NĐT) có tài khoản của SSI ngoài việc theo dõi các chứng chỉ quỹ (CCQ) của SSI quản lý còn theo dõi được thêm CCQ của DCVFM.

Hàng tồn kho là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận chưa thể chuyển hóa thành tiền mặt. Ảnh: NAM ANH

Dòng tiền mới là phép thử

Dù lợi nhuận vẫn hiện hữu trên báo cáo tài chính, nhưng dòng tiền kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bất động sản lại tiếp tục âm. Khoảng cách kéo dài giữa “lãi trên sổ sách” và “tiền thật” có thể biến thành áp lực thanh khoản, đặc biệt với doanh nghiệp có nợ ngắn hạn lớn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nút thắt “tiêu chí” của dòng vốn xanh

Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH

“Hòn đá tảng” của thị trường chứng khoán

Trong các báo cáo phân loại thị trường hằng năm, tình trạng hết tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room ngoại) liên tục được một công ty tài chính đa quốc gia (MSCI - Mỹ) nhắc đến như một hạn chế lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nhà đầu tư tìm hiểu thông tin về dự án tại sàn giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Bất động sản không còn là cuộc chơi của kỳ vọng

Sau một chu kỳ tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự thay đổi tâm lý của nhà đầu tư, từ kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá sang tìm kiếm dòng tiền khai thác. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã không còn tin tuyệt đối vào khả năng tăng giá liên tục của bất động sản.

Tư vấn cho khách hàng vay mua bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn đang được phân loại theo giá trị

Nếu trước đây tín dụng bất động sản chủ yếu được nhìn dưới góc độ rủi ro và cần kiểm soát chặt, thì quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ nhu cầu thực như nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính Mỹ vừa công bố Tuyên bố chung về tiền tệ, tái khẳng định cam kết hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ Đối thoại Chính sách Tài chính vĩ mô Việt Nam - Mỹ, nhấn mạnh việc tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế liên quan chính sách tỷ giá và tiền tệ.

Mới nhưng không lạ

Có thể nói, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang ở giai đoạn phân hoá khốc liệt bậc nhất trong lịch sử. 

Nhiều ngân hàng lớn đang chuẩn bị triển khai các kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh trái phiếu. Ảnh: NAM ANH

Sự đảo chiều trên thị trường trái phiếu

Ngân hàng vốn được xem là khu vực “khỏe” nhất trên thị trường vốn, nhưng nay cũng đã bước vào cuộc đua huy động trái phiếu với mức lãi suất tiệm cận lãi vay. Nhiều đợt phát hành trái phiếu gần đây của các ngân hàng ghi nhận lãi suất lên tới 8-9%/năm, cao hơn đáng kể so cùng kỳ năm trước.

Các hãng hàng không linh hoạt áp dụng nhiều giải pháp để tiết giảm chi phí. Ảnh: KỲ DUYÊN

Kích cầu hàng không, du lịch để thúc đẩy tăng trưởng

Cú sốc giá nhiên liệu đặt các hãng hàng không và lữ hành đứng trước thử thách mới, không chỉ là cạnh tranh về giá mà phải xem xét trong tổng thể chuỗi vận tải-lưu trú-dịch vụ-điểm đến và đặc biệt là phải xây dựng nền tảng phát triển bền vững để thích ứng tốt hơn trong bối cảnh thị trường liên tục thay đổi.

Đừng chủ quan với “hàng cơ bản”

“Hàng cơ bản” là khái niệm chỉ cổ phiếu (CP) của doanh nghiệp (DN) có vị thế đầu ngành, thương hiệu lớn và nền tảng kinh doanh vững chắc. Nhưng trong thời gian gần đây, không ít hàng cơ bản vẫn có thể giảm giá 15-20% chỉ trong thời gian ngắn, đưa không ít nhà đầu tư (NĐT) vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Tính đến nay, đã có 42 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất lại gặp áp lực

Khi tín dụng tăng nhanh còn tiền gửi tăng chậm, áp lực lãi suất bắt đầu quay lại hệ thống ngân hàng. Ở mặt khác, ngân hàng đang chịu áp lực phải bảo đảm mức lãi vay ở mức thấp nhất có thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.

Những dự án được đầu tư hạ tầng đồng bộ thường ghi nhận giá trị bất động sản tăng rõ rệt. Ảnh: NAM ANH

“Cơn sốt” kỳ vọng của bất động sản

Liên tiếp các dự án hạ tầng lớn được công bố, giá chào bán bất động sản tại nhiều nơi bị đẩy lên cao. Các chuyên gia cảnh báo, thị trường đang được dẫn dắt bởi kỳ vọng nhiều hơn nền tảng.

Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đồng loạt điều chỉnh hạ lãi suất. Ảnh: NAM ANH

Thế khó của ngành ngân hàng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng đang hoạt động trong bối cảnh nhiều sức ép đan xen. Các ngân hàng một mặt phải thực hiện yêu cầu giảm lãi suất, mặt khác, mục tiêu tăng trưởng được điều chỉnh thấp hơn so với năm 2025.