Tái chế HFC: Cơ hội xanh cho mục tiêu Net Zero

Trong bối cảnh thế giới kỷ niệm 40 năm Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozon, Việt Nam đang bước vào giai đoạn then chốt của việc quản lý và loại trừ HFC làm nóng toàn cầu rất cao. Đây không chỉ là thách thức về môi trường mà còn là cơ hội để đất nước thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh, tham gia thị trường tín chỉ carbon.

Nhà máy sản xuất điều hòa Daikin.
Nhà máy sản xuất điều hòa Daikin.

HFC là nhóm khí tổng hợp được sử dụng để làm mát và làm lạnh, vốn được coi là giải pháp thay thế cho các chất CFC, HCFC gây thủng tầng ozon, nhưng lại mang hệ số nóng lên toàn cầu gấp hàng nghìn lần CO2. Nhiều nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng, nếu không kiểm soát HFC, đến cuối thế kỷ 21 nhiệt độ trung bình toàn cầu có thể tăng cao hơn 0,5°C so với kịch bản hiện nay.

Với một quốc gia đang phát triển nhanh, nhu cầu sử dụng thiết bị lạnh, điều hòa và kho bảo quản ngày càng lớn, lượng phát thải HFC tại Việt Nam được dự báo tăng mạnh nếu không có cơ chế quản lý nghiêm ngặt.

Theo lộ trình đã công bố, giai đoạn 2024-2028, lượng nhập khẩu HFC sẽ được giữ ở mức cơ sở, tương đương 13,9 triệu tấn CO2tđ; từ sau năm 2029 lượng nhập khẩu bắt đầu giảm dần, tiến tới năm 2045 không vượt quá 2,8 triệu tấn CO2tđ. Đây là cam kết cụ thể của Việt Nam khi tham gia bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal.

Những bước đi quyết liệt này được thể chế hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP của Chính phủ Quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon; mới đây là Nghị định số 119/2025/NĐ-CP, lần đầu tiên đưa khái niệm “làm mát bền vững” vào hệ thống pháp luật. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 496/ QĐ-TTg năm 2024 phê duyệt Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozon và chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát, trong đó HFC là trọng tâm.

Kế hoạch này tích hợp đồng bộ quản lý vòng đời HFC, từ sản xuất, nhập khẩu, sử dụng đến thu gom, tái chế và xử lý. Đặc biệt, kể từ ngày 1/1/2028, trách nhiệm thu gom, tái chế hoặc xử lý thiết bị có chứa HFC sẽ được mở rộng cho cả nhà nhập khẩu và nhà sản xuất nhằm ngăn chặn phát tán khí ra môi trường, đồng thời khuyến khích tái sử dụng, tái chế để tạo giá trị kinh tế mới.

Song hành với chính sách là sự chuyển động mạnh mẽ từ phía doanh nghiệp. Xu thế toàn cầu hiện nay là chuyển đổi các dòng điều hòa thương mại công suất lớn (VRV-Variable Refrigerant Volume, hệ thống điều hòa trung tâm dùng môi chất lạnh lưu lượng biến đổi) sang sử dụng các loại môi chất lạnh thân thiện với khí hậu.

Tại châu Âu, sản phẩm VRV sử dụng môi chất lạnh R32 (loại gas lạnh thế hệ mới có chỉ số nóng lên toàn cầu-GWP chỉ 675) được triển khai rộng rãi; ở khu vực Đông Nam Á, nhiều hãng lớn cũng bắt đầu đưa công nghệ này vào thị trường, trong đó có Việt Nam. So với loại gas R410A (GWP 2.088), R32 có chỉ số thấp hơn gần ba lần, vừa nâng hiệu suất làm lạnh, vừa giảm tới 76% tác động môi trường đối với máy VRV công suất 4 đến 9 mã lực.

Việc chuyển đổi này cho thấy một xu hướng khi toàn bộ lĩnh vực điều hòa, làm mát chuyển sang các môi chất lạnh có chỉ số GWP thấp, mục tiêu khí hậu toàn cầu mới có thể đạt được.

Đại diện Daikin Việt Nam nhấn mạnh: “Chuyển đổi sang sản phẩm thân thiện khí hậu không chỉ là chiến lược, mà còn là cam kết phát triển bền vững của chúng tôi”. Điều này cũng phù hợp với định hướng chính sách của Việt Nam, khi Quyết định số 469/QĐ-TTg năm 2024 quy định từ năm 2029 sẽ dừng sản xuất và nhập khẩu điều hòa gia dụng, VRV, VRF sử dụng các chất có GWP trên 750, mở đường cho công nghệ mới phát triển.

Theo thống kê của Ban Thư ký Ozon quốc tế, tính đến tháng 8/2025, Việt Nam đã đóng góp ngăn ngừa phát thải khoảng 240 triệu tấn CO2 tương đương nhờ các biện pháp loại trừ CFC, HCFC và từng bước quản lý HFC. Riêng trong giai đoạn tới, việc thực hiện lộ trình HFC dự kiến giúp Việt Nam giảm trực tiếp hơn 11 triệu tấn CO2 tương đương đến năm 2045.

Lượng giảm phát thải này có thể được chuyển đổi thành tín chỉ carbon, mở ra cơ hội để doanh nghiệp tiếp cận cơ chế tài chính carbon, huy động thêm nguồn lực đầu tư đổi mới công nghệ. Đây là hướng đi được nhiều quốc gia thực hiện thành công, trong đó Hàn Quốc là thí dụ điển hình khi gắn hoạt động tái chế chất làm lạnh với thị trường tín chỉ carbon, biến thách thức môi trường thành động lực kinh tế.

Theo ông Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các hoạt động bảo vệ tầng ozon của Việt Nam không chỉ góp phần phục hồi tầng ozon mà còn giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh toàn diện hơn. Bên cạnh đó, nhấn mạnh việc quản lý vòng đời HFC gắn trực tiếp với mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đồng thời mở ra cơ hội tham gia thị trường tín chỉ carbon quốc tế.

Có thể thấy, quản lý và tái chế HFC không chỉ là nghĩa vụ quốc tế mà còn là cơ hội để Việt Nam cơ cấu lại ngành công nghiệp làm mát, tạo ra giá trị kinh tế mới từ tín chỉ carbon. Khi áp dụng cơ chế bù trừ theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris hoặc thị trường tự nguyện, các bên từ nhà nhập khẩu, doanh nghiệp bảo trì đến cơ sở xử lý đều có thể chia sẻ lợi ích.

Các hoạt động bảo vệ tầng ozon của Việt Nam không chỉ góp phần phục hồi tầng ozon mà còn giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh toàn diện hơn. Bên cạnh đó, nhấn mạnh việc quản lý vòng đời HFC gắn trực tiếp với mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đồng thời mở ra cơ hội tham gia thị trường tín chỉ carbon quốc tế.

Ông Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu,

Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Cụ thể, việc thu hồi khí tồn dư trong các bình chứa, tái chế đạt tiêu chuẩn chất lượng, sau đó bán lại thay thế khí nguyên sinh sẽ góp phần giảm nhập khẩu HFC. Đồng thời, phần giảm phát thải được xác minh có thể chuyển hóa thành tín chỉ carbon, đem lại nguồn thu bổ sung. Điều này không chỉ giúp Việt Nam tiến gần hơn đến mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính trong đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), mà còn mở ra cánh cửa để doanh nghiệp trong nước bước vào chuỗi giá trị carbon toàn cầu

Có thể bạn quan tâm

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới.

ESG và chuỗi cung ứng xanh: Chìa khóa hút FDI thế hệ mới

Cuộc cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI đang bước sang một giai đoạn mới, khi chi phí lao động thấp hay các ưu đãi về đất đai, thuế suất không còn là lợi thế thì năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị doanh nghiệp) đang trở thành yếu tố quyết định để đón dòng vốn FDI chất lượng cao.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu.

Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu

Những yêu cầu ngày càng khắt khe về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn ESG đang tạo ra áp lực chưa từng có đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chủ động tái cấu trúc, đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị phát thải nhằm từng bước tham gia sâu vào chuỗi phát triển bền vững toàn cầu.

Hiện tỉnh Sơn La có 58 hợp tác xã nông nghiệp có mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.

Chuyển đổi xanh mở lối cho nông nghiệp Sơn La phát triển bền vững

Tỉnh Sơn La đang khẳng định vị thế là địa phương đi đầu trong phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và chuyển đổi số. Những mô hình hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong chế biến nông sản, tư duy sản xuất theo hướng bền vững đã góp phần nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập cho người dân.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao

Trên hành trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xây dựng được xem là lĩnh vực then chốt cần chuyển đổi mạnh mẽ. Không chỉ quy mô tiêu thụ tài nguyên khổng lồ, mà còn bởi lượng phát thải chiếm tỷ trọng lớn. Những nghiên cứu về vật liệu xây dựng xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Việt Nam cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. (Ảnh: Netzero.vn)

Net Zero và cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam

Cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 thường được nhìn nhận như một mục tiêu khí hậu hay nghĩa vụ quốc tế. Nhưng ở góc độ phát triển, Net Zero còn là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và kiến tạo những động lực phát triển mới cho nền kinh tế.

Sản phẩm vật liệu xanh được Công ty Xi-măng Sông Thao phân phối ra thị trường.

Khơi thông tiềm năng vật liệu xanh, bền vững

Xanh hóa vật liệu cho ngành xây dựng mang lại lợi ích kinh tế, đồng thời là giải pháp hữu hiệu nhằm giảm phát thải, hướng tới nền kinh tế xanh, bền vững. Thời gian qua, các công trình nghiên cứu, thử nghiệm về loại vật liệu này đã cho thấy tính khả thi cao và có nhiều tiềm năng ứng dụng trong thi công.

Dự án góp phần hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ trong chuyển đổi xanh. (Ảnh: CTV)

Hỗ trợ tối đa 1,8 tỷ đồng cho các sáng kiến về chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt

Từ nay đến hết ngày 12/6/2026, mỗi sáng kiến góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm tử tế và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với điều kiện địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được nhận hồ sơ xét tài trợ đợt hai.

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Từ những vùng đất từng bị xem là chai cứng, khó canh tác, các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học đang từng bước tạo nên sự thay đổi rõ rệt. Không chỉ giúp giảm chi phí, tăng năng suất và nâng cao giá trị nông sản, những vườn chanh leo, dâu tây, cà chua… còn mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp xanh, bền vững.

Tọa đàm “Tài nguyên thiên nhiên và chuyển đổi xanh ở Việt Nam”. (Ảnh: TL)

Thúc đẩy chuyển đổi xanh, hướng tới phát triển bền vững

Trong bối cảnh hiện nay, thúc đẩy năng lượng tái tạo, nông nghiệp tuần hoàn, bảo vệ rừng, quản lý bền vững tài nguyên nước và khai thác khoáng sản gắn với công nghệ sạch không chỉ là xu thế tất yếu, mà còn là giải pháp then chốt để hài hòa giữa khai thác và bảo tồn, hướng tới phát triển nhanh và bền vững.