Chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu

Những yêu cầu ngày càng khắt khe về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn ESG đang tạo ra áp lực chưa từng có đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chủ động tái cấu trúc, đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị phát thải nhằm từng bước tham gia sâu vào chuỗi phát triển bền vững toàn cầu.

Công nghệ mở đường cho chuỗi cung ứng xanh

Trong bối cảnh các thị trường lớn như Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Australia ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn môi trường, phát thải carbon không còn là vấn đề riêng của các doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn mà đang trở thành yêu cầu đối với toàn bộ chuỗi cung ứng. Theo bà Lô Ly, Trưởng đại diện Comtest Group Việt Nam, nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm, giá thành và thời gian giao hàng thì hiện nay các tiêu chí về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp đã trở thành một phần quan trọng trong quá trình lựa chọn đối tác của các tập đoàn quốc tế.

ba-lo-ly-truong-vp-dai-dien-comtest-group-tai-vn.jpg
Bà Lô Ly – Trưởng Văn phòng Đại diện Tập đoàn Comtest Group tại Việt Nam. (Ảnh: Đỗ Bảo)

Đáng chú ý, nhiều nhà mua hàng quốc tế không chỉ yêu cầu doanh nghiệp cung cấp báo cáo phát thải tại nhà máy mà còn yêu cầu dữ liệu phát thải từ các nhà cung cấp cấp một, cấp hai và các đơn vị liên quan trong toàn bộ chuỗi cung ứng. "Những yêu cầu về phát triển bền vững không còn mang tính khuyến nghị mà đang dần trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu", bà Lô Ly nhấn mạnh. Thực tế này buộc doanh nghiệp Việt Nam phải thay đổi tư duy từ bị động đáp ứng sang chủ động chuẩn bị. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu phát thải, thực hiện kiểm kê khí nhà kính và quản trị ESG đang trở thành những nhiệm vụ quan trọng để duy trì thị trường xuất khẩu cũng như tiếp cận các khách hàng quốc tế.

Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là dữ liệu phát thải còn phân tán, thiếu đồng bộ và chủ yếu được xử lý thủ công. Ông Bùi Lâm Anh, Giám đốc Phát triển sản phẩm Lead On GHG cho biết, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chưa có bộ phận chuyên trách về quản lý phát thải. Mỗi lần thực hiện kiểm kê khí nhà kính thường phải thuê đơn vị tư vấn, mất từ ba đến sáu tháng để thu thập dữ liệu, tính toán và hoàn thiện báo cáo. Để giải quyết bài toán này, các nền tảng số quản lý phát thải đang được doanh nghiệp quan tâm triển khai. Các hệ thống này cho phép thu thập, lưu trữ tập trung dữ liệu vận hành, tự động tính toán lượng phát thải khí nhà kính và xây dựng báo cáo theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Việc số hóa dữ liệu giúp doanh nghiệp tiết kiệm tới 50% chi phí quản lý phát thải và giảm khoảng 90% thời gian thực hiện kiểm kê so với phương thức truyền thống. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

Việc số hóa dữ liệu giúp doanh nghiệp tiết kiệm tới 50% chi phí quản lý phát thải và giảm khoảng 90% thời gian thực hiện kiểm kê so với phương thức truyền thống. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

Theo ông Bùi Lâm Anh, việc số hóa dữ liệu giúp doanh nghiệp tiết kiệm tới 50% chi phí quản lý phát thải và giảm khoảng 90% thời gian thực hiện kiểm kê so với phương thức truyền thống. Không chỉ hỗ trợ đáp ứng các yêu cầu tuân thủ, các nền tảng số còn giúp doanh nghiệp theo dõi mức tiêu thụ năng lượng, đánh giá hiệu quả vận hành, xác định các điểm phát sinh lãng phí và đưa ra giải pháp tối ưu hóa trong thời gian thực. Các chuyên gia nhận định, chuyển đổi số đang trở thành nền tảng quan trọng của chuyển đổi xanh. Doanh nghiệp chỉ có thể quản lý phát thải hiệu quả khi sở hữu hệ thống dữ liệu minh bạch, đầy đủ và được cập nhật liên tục.

Khi chuỗi cung ứng xanh là lợi thế cạnh tranh mới

Theo ông Lương Quang Huy, Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng Ozone, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý phát thải khí nhà kính, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và triển khai lộ trình hình thành thị trường carbon trong nước. Hiện danh mục các cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính đã được mở rộng lên hơn 2.100 cơ sở thuộc nhiều lĩnh vực kinh tế. Song song với đó, hệ thống quản lý phát thải trên nền tảng số cũng đang được xây dựng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện báo cáo, kiểm kê và xác minh dữ liệu.

cc67571b97f027ae7ee18.jpg
Hệ thống quản lý phát thải trên nền tảng số cũng đang được xây dựng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện báo cáo, kiểm kê và xác minh dữ liệu.

Theo ông Huy, nếu nhìn ở góc độ dài hạn, quản lý phát thải không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn là cơ hội để doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, sử dụng hiệu quả năng lượng và gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Nhiều doanh nghiệp đã nhận thấy dữ liệu phát thải đang trở thành một loại tài sản mới. Những đơn vị sở hữu dữ liệu minh bạch, có khả năng truy xuất nguồn gốc carbon và chứng minh được hiệu quả giảm phát thải sẽ có lợi thế lớn hơn trong tiếp cận khách hàng, nhà đầu tư và các nguồn vốn xanh. Theo các chuyên gia, đây cũng là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tái cấu trúc theo hướng phát triển bền vững.

Theo ThS Cao Cẩm Linh, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Phát triển nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA), doanh nghiệp logistics là một trong những nhóm doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến việc kiểm soát khí thải carbon. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp logistics hiện nay, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập và quản lý dữ liệu phát thải.

Bà Linh cho biết, mặc dù nhiều doanh nghiệp đã ứng dụng các phần mềm quản trị logistics, song dữ liệu phục vụ kiểm kê khí nhà kính và báo cáo phát thải carbon vẫn còn phân tán, thiếu đồng bộ. Trong khi các hãng tàu và hãng hàng không đã xây dựng được hệ thống dữ liệu tương đối hoàn chỉnh, nhiều doanh nghiệp giao nhận, vận tải quy mô nhỏ vẫn phải thực hiện báo cáo theo phương thức thủ công do hạn chế về nguồn lực và chi phí đầu tư công nghệ.

Đáng chú ý, trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng quan tâm đến dấu chân carbon của sản phẩm và các tiêu chí ESG, yêu cầu truy xuất nguồn gốc không chỉ dừng ở sản phẩm cuối cùng mà còn mở rộng tới toàn bộ quá trình vận hành của chuỗi cung ứng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp logistics phải từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu phát thải đầy đủ, minh bạch ngay từ đầu.

ThS Cao Cẩm Linh, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Phát triển nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA). (Ảnh: Đỗ Bảo)

ThS Cao Cẩm Linh, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Phát triển nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA). (Ảnh: Đỗ Bảo)

Theo bà Linh, bên cạnh việc hoàn thiện khung chính sách, cần có thêm các chương trình hướng dẫn chuyên sâu, xây dựng lộ trình phù hợp cho doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong ngành logistics. Đây là nhóm doanh nghiệp chiếm hơn 80% số lượng doanh nghiệp logistics đang hoạt động trên thị trường nhưng lại gặp nhiều hạn chế về nguồn lực để triển khai các hoạt động quản trị carbon và chuyển đổi xanh.

Chủ động đón đầu lộ trình Net Zero

Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cộng đồng doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi. Ông Phạm Đức Nghiệm, Phó Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, chuyển đổi xanh đang mở ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp Việt Nam. Nhiều giải pháp công nghệ xanh, mô hình kinh doanh bền vững và dự án đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm từ các quỹ đầu tư quốc tế với giá trị tài trợ lên tới hàng triệu USD.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng lưu ý doanh nghiệp không nên chờ đến khi các yêu cầu về phát thải và ESG trở thành bắt buộc mới bắt đầu hành động. Việc chuẩn bị sớm sẽ giúp giảm đáng kể chi phí thích ứng, đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh các tiêu chuẩn xanh đang lan tỏa nhanh chóng từ các tập đoàn đa quốc gia xuống toàn bộ chuỗi cung ứng.

Từ kiểm kê khí nhà kính, số hóa dữ liệu vận hành đến xây dựng chiến lược ESG, mỗi bước đi hôm nay đều là nền tảng để doanh nghiệp thích ứng với nền kinh tế carbon thấp trong tương lai. Trong hành trình hướng tới Net Zero, cải tiến chuỗi cung ứng xanh không còn là lựa chọn mà đang trở thành điều kiện để doanh nghiệp tồn tại, phát triển và nâng cao vị thế trên thị trường toàn cầu.

Có thể bạn quan tâm

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao.

Gạch đất không nung, lời giải xanh cho bài toán nhà ở vùng cao

Trên hành trình hướng tới phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, xây dựng được xem là lĩnh vực then chốt cần chuyển đổi mạnh mẽ. Không chỉ quy mô tiêu thụ tài nguyên khổng lồ, mà còn bởi lượng phát thải chiếm tỷ trọng lớn. Những nghiên cứu về vật liệu xây dựng xanh không còn là lựa chọn, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.

Sản phẩm vật liệu xanh được Công ty Xi-măng Sông Thao phân phối ra thị trường.

Khơi thông tiềm năng vật liệu xanh, bền vững

Xanh hóa vật liệu cho ngành xây dựng mang lại lợi ích kinh tế, đồng thời là giải pháp hữu hiệu nhằm giảm phát thải, hướng tới nền kinh tế xanh, bền vững. Thời gian qua, các công trình nghiên cứu, thử nghiệm về loại vật liệu này đã cho thấy tính khả thi cao và có nhiều tiềm năng ứng dụng trong thi công.

Dự án góp phần hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ trong chuyển đổi xanh. (Ảnh: CTV)

Hỗ trợ tối đa 1,8 tỷ đồng cho các sáng kiến về chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt

Từ nay đến hết ngày 12/6/2026, mỗi sáng kiến góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm tử tế và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với điều kiện địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được nhận hồ sơ xét tài trợ đợt hai.

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Từ những vùng đất từng bị xem là chai cứng, khó canh tác, các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học đang từng bước tạo nên sự thay đổi rõ rệt. Không chỉ giúp giảm chi phí, tăng năng suất và nâng cao giá trị nông sản, những vườn chanh leo, dâu tây, cà chua… còn mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp xanh, bền vững.

Tọa đàm “Tài nguyên thiên nhiên và chuyển đổi xanh ở Việt Nam”. (Ảnh: TL)

Thúc đẩy chuyển đổi xanh, hướng tới phát triển bền vững

Trong bối cảnh hiện nay, thúc đẩy năng lượng tái tạo, nông nghiệp tuần hoàn, bảo vệ rừng, quản lý bền vững tài nguyên nước và khai thác khoáng sản gắn với công nghệ sạch không chỉ là xu thế tất yếu, mà còn là giải pháp then chốt để hài hòa giữa khai thác và bảo tồn, hướng tới phát triển nhanh và bền vững.

Mô hình nhà máy xanh.

Hiệu quả từ mô hình sử dụng tài nguyên hướng đến phát triển xanh bền vững

Mô hình sản xuất không chất thải của Gốm Đất Việt là minh chứng tiêu biểu cho hướng đi công nghiệp xanh, bền vững tại Việt Nam. Đơn vị đã tận dụng triệt để nguồn tài nguyên đất sét từ mỏ riêng, áp dụng công nghệ hiện đại để tái sử dụng toàn bộ chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất, không phát sinh rác thải ra môi trường.