Khơi thông tiềm năng vật liệu xanh, bền vững

Xanh hóa vật liệu cho ngành xây dựng mang lại lợi ích kinh tế, đồng thời là giải pháp hữu hiệu nhằm giảm phát thải, hướng tới nền kinh tế xanh, bền vững. Thời gian qua, các công trình nghiên cứu, thử nghiệm về loại vật liệu này đã cho thấy tính khả thi cao và có nhiều tiềm năng ứng dụng trong thi công.

Sản phẩm vật liệu xanh được Công ty Xi-măng Sông Thao phân phối ra thị trường.
Sản phẩm vật liệu xanh được Công ty Xi-măng Sông Thao phân phối ra thị trường.

Hạn chế của vật liệu truyền thống

Báo cáo của Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) chỉ ra những hạn chế trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, đó là: Hệ thống chính sách, pháp luật còn thiếu đồng bộ; nhiều quy định nằm rải rác ở các luật, nghị định, thông tư thuộc các lĩnh vực khác nhau như xây dựng, địa chất và khoáng sản, bảo vệ môi trường, đầu tư, đất đai, chất lượng sản phẩm hàng hóa, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, thương mại, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu-nhập khẩu.

Những hạn chế nêu trên dẫn đến khó khăn trong phối hợp liên ngành, phân định trách nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện ở địa phương. Bên cạnh đó, việc phát triển vật liệu xây dựng tại một số địa phương còn dàn trải, chưa gắn chặt với vùng nguyên liệu, hạ tầng logistics, nhu cầu thị trường và yêu cầu bảo vệ môi trường. Một số cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều tài nguyên, năng lượng, phát thải lớn; trong khi tỷ lệ vật liệu xanh, vật liệu tiết kiệm năng lượng, vật liệu tái chế và vật liệu thân thiện môi trường trong tổng cơ cấu sử dụng vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển bền vững.

Hiện năng lực cạnh tranh của một bộ phận doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế, phụ thuộc vào công nghệ, thiết bị nhập khẩu, chậm thích ứng với các yêu cầu mới về tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường, phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu sản phẩm và chứng nhận xanh. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, sản phẩm vật liệu xây dựng sản xuất trong nước chịu sức ép cạnh tranh ngày càng lớn từ hàng nhập khẩu; đồng thời xuất khẩu cũng gặp nhiều khó khăn hơn do yêu cầu kỹ thuật, môi trường và thương mại của thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe.

Vẫn xảy ra tình trạng mất cân đối cục bộ, khan hiếm hoặc tăng giá bất thường đối với một số loại vật liệu xây dựng, nhất là vật liệu xây dựng thông thường và vật liệu san lấp phục vụ các dự án, công trình trọng điểm quốc gia.

Việc cập nhật, công khai thông tin về công suất, sản lượng, nguồn cung, nhu cầu, thị trường tiêu thụ và khả năng đáp ứng theo vùng còn chưa kịp thời. Cơ sở dữ liệu về vật liệu xây dựng chưa được tổ chức theo hướng dùng chung, tích hợp, liên thông, làm hạn chế khả năng dự báo, điều phối và phục vụ quản lý nhà nước hiện đại.

Trong khi đó, công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm, xử lý vi phạm trong sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng ở một số nơi chưa thường xuyên, chưa nghiêm; hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Công tác quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng cần được chuyển mạnh hơn sang mô hình quản lý dựa trên mức độ rủi ro, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức đánh giá sự phù hợp, cơ quan quản lý nhà nước.

Gỡ nút thắt chính sách

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Văn Viết Thiên Ân (Trường đại học Xây dựng), vật liệu xanh là vật liệu thân thiện với môi trường, hạn chế ô nhiễm, không gây hại cho sức khỏe con người và hệ sinh thái trong quá trình khai thác, sản xuất và sử dụng. Vật liệu bền vững có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả vật liệu xanh nhưng cần quan tâm đến khả năng bảo tồn tài nguyên, khả năng tái tạo, tính kinh tế-xã hội trong suốt vòng đời của vật liệu. Vật liệu xanh, bền vững mang mục đích giảm sử dụng tài nguyên tự nhiên; giảm phát thải CO2; sử dụng nguồn phế phẩm, chất thải...

Vật liệu xanh là vật liệu thân thiện với môi trường, hạn chế ô nhiễm, không gây hại cho sức khỏe con người và hệ sinh thái trong quá trình khai thác, sản xuất và sử dụng. Vật liệu bền vững có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả vật liệu xanh nhưng cần quan tâm đến khả năng bảo tồn tài nguyên, khả năng tái tạo, tính kinh tế-xã hội trong suốt vòng đời của vật liệu. Vật liệu xanh, bền vững mang mục đích giảm sử dụng tài nguyên tự nhiên; giảm phát thải CO2; sử dụng nguồn phế phẩm, chất thải...

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Văn Viết Thiên Ân (Trường đại học Xây dựng)

Đây cũng là mục tiêu mà Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 7/1/2022 của Chính phủ đặt ra, đến năm 2030 các ngành kinh tế giảm 563,8 triệu tấn CO2tđ, trong đó ngành xây dựng giảm 74,3 triệu tấn CO2tđ. Điều này đặt ra cho ngành xây dựng nói chung và sản xuất vật liệu xây dựng nói riêng mục tiêu giảm phát thải, trung hòa carbon; thúc đẩy vật liệu xanh, công nghệ xây dựng mới, tối ưu hóa tài nguyên và giảm tác động môi trường; hướng đến tương lai đô thị xanh-thông minh-bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn với công nghiệp hóa-hiện đại hóa.

Nghiên cứu của các nhà khoa học Trường đại học Xây dựng cho thấy, nhiều nguồn nguyên liệu có thể sử dụng để sản xuất vật liệu xanh. Điển hình như chất thải xây dựng (có tổng lượng khoảng 9,6 triệu tấn/năm), nguồn nguyên liệu này cho đến nay chưa được tận dụng, vừa lãng phí vừa gây ô nhiễm môi trường. Khối lượng tro xỉ có tiềm năng khoảng 20 triệu tấn/năm để sản xuất xi-măng và bê-tông chất lượng siêu cao. Sử dụng vật liệu không nung (như gạch, panel tường, sàn, mái, dầm lanh tô…) giúp giảm tiêu hao năng lượng chế tạo.

Nguồn nguyên liệu từ cát biển, có trữ lượng lớn, có thể sử dụng cho các công trình hạ tầng sau quy trình khử muối. Việc sử dụng vật liệu cách âm, cách nhiệt, chống cháy… từ nguồn nguyên liệu cao-su phế thải. Sử dụng vật liệu tiên tiến, chức năng để sản xuất bê-tông vi sinh, sơn chịu nhiệt, vật liệu nano…

Mặc dù có nhiều tiềm năng và đã được chứng minh tính khả thi nhưng việc phát triển nguồn vật liệu xanh, bền vững trong thực tế còn nhiều thách thức. Đó là nguồn nguyên vật liệu chưa ổn định; thiếu đồng bộ về tiêu chuẩn, quy chuẩn; thị trường và nhận thức còn hạn chế; giá thành cao do quy trình sản xuất mới; công nghệ chưa tốt và quy mô sản xuất nhỏ, chưa có cơ chế hỗ trợ khuyến khích tổng thể, mối liên kết, phối hợp từ sản xuất tới tiêu dùng còn yếu…

Vật liệu xanh, bền vững là xu thế bắt buộc trong bối cảnh biến đổi khí hậu, phát triển bền vững. Các nghiên cứu cho thấy khả năng sản xuất và ứng dụng thực tiễn của các loại vật liệu này là khả thi khi có sự vào cuộc của các bên liên quan.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Vĩnh Long (Trường đại học Xây dựng)

Đề xuất khắc phục vướng mắc, tạo hành lang thuận lợi để vật liệu xanh, bền vững có “chỗ đứng” trên thị trường, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Vĩnh Long (Trường đại học Xây dựng) cho rằng cần có sự vào cuộc của các bên liên quan. “Vật liệu xanh, bền vững là xu thế bắt buộc trong bối cảnh biến đổi khí hậu, phát triển bền vững. Các nghiên cứu cho thấy khả năng sản xuất và ứng dụng thực tiễn của các loại vật liệu này là khả thi khi có sự vào cuộc của các bên liên quan”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Vĩnh Long cho biết.

Theo đó, cơ quan chức năng cần sớm hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn-quy chuẩn cho vật liệu xây dựng tái chế và vật liệu mới; ban hành các quy định, cơ chế hỗ trợ, ưu đãi thuế, quy định tỷ lệ sử dụng, bảo vệ tài nguyên; kiểm soát thực hiện quy định. Đồng thời, việc đẩy mạnh nghiên cứu, chuẩn hóa và ứng dụng thí điểm cần được kết hợp với đào tạo, nâng cao nhận thức của xã hội đối với vật liệu xanh, bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Dự án góp phần hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ trong chuyển đổi xanh. (Ảnh: CTV)

Hỗ trợ tối đa 1,8 tỷ đồng cho các sáng kiến về chuyển đổi xanh do phụ nữ dẫn dắt

Từ nay đến hết ngày 12/6/2026, mỗi sáng kiến góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm tử tế và nâng cao vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững và kinh tế tuần hoàn, phù hợp với điều kiện địa phương và thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được nhận hồ sơ xét tài trợ đợt hai.

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Đồng hành xanh hóa nông nghiệp: Từ giấc mơ đến hiện thực

Từ những vùng đất từng bị xem là chai cứng, khó canh tác, các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học đang từng bước tạo nên sự thay đổi rõ rệt. Không chỉ giúp giảm chi phí, tăng năng suất và nâng cao giá trị nông sản, những vườn chanh leo, dâu tây, cà chua… còn mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp xanh, bền vững.

Tọa đàm “Tài nguyên thiên nhiên và chuyển đổi xanh ở Việt Nam”. (Ảnh: TL)

Thúc đẩy chuyển đổi xanh, hướng tới phát triển bền vững

Trong bối cảnh hiện nay, thúc đẩy năng lượng tái tạo, nông nghiệp tuần hoàn, bảo vệ rừng, quản lý bền vững tài nguyên nước và khai thác khoáng sản gắn với công nghệ sạch không chỉ là xu thế tất yếu, mà còn là giải pháp then chốt để hài hòa giữa khai thác và bảo tồn, hướng tới phát triển nhanh và bền vững.

Mô hình nhà máy xanh.

Hiệu quả từ mô hình sử dụng tài nguyên hướng đến phát triển xanh bền vững

Mô hình sản xuất không chất thải của Gốm Đất Việt là minh chứng tiêu biểu cho hướng đi công nghiệp xanh, bền vững tại Việt Nam. Đơn vị đã tận dụng triệt để nguồn tài nguyên đất sét từ mỏ riêng, áp dụng công nghệ hiện đại để tái sử dụng toàn bộ chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất, không phát sinh rác thải ra môi trường.

Để đạt được các cam kết khí hậu, chuyển dịch năng lượng xanh trên toàn diện các lĩnh vực, đặc biệt là khối doanh nghiệp sản xuất, không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc.

Thúc đẩy chuyển đổi số cùng chuyển đổi xanh nhằm bảo đảm phát triển bền vững

Trong dòng chảy chuyển dịch năng lượng toàn cầu, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn bản lề, nơi bài toán tăng trưởng không còn tách rời khỏi yêu cầu phát triển bền vững. Cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đã và đang trở thành áp lực chuyển đổi thật sự đối với nền kinh tế, đặc biệt là khu vực sản xuất công nghiệp.

Quang cảnh hội thảo.

Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn

Các tham luận được trình bày tại hội thảo chuyên đề “Chuỗi cung ứng tín chỉ carbon, giá trị gia tăng và chiến lược đồng quản trị lưu vực đầu nguồn” đã góp phần nâng cao hiểu biết cả về lý luận và thực tiễn đối với hệ thống carbon rừng tại Việt Nam, với trọng tâm là các hệ sinh thái rừng nhiệt đới và rừng ngập mặn.

Sản phẩm viên nén sinh khối của Nhà máy nhiên liệu sinh khối Erex Sakura Tuyên Quang được thị trường Nhật Bản đón nhận.

Đánh thức tiềm năng năng lượng sinh khối: Hướng đi chiến lược cho mục tiêu Net Zero của Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu đẩy mạnh chuyển dịch năng lượng nhằm hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng 0 tại COP26, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để khai thác hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, trong đó năng lượng sinh khối được xem là một trụ cột giàu tiềm năng nhưng chưa được phát huy tương xứng.

Việt Nam trong bức tranh nhiên liệu hàng không bền vững khu vực

Việt Nam trong bức tranh nhiên liệu hàng không bền vững khu vực

Báo cáo ASEAN 2050 SAF Outlook công bố vừa qua - do tổ chức tư vấn GHD thực hiện, với sự tài trợ của Quỹ Thương mại và Đầu tư Canada vì phát triển (CTIF), đối tác tri thức Boeing và Ban Thư ký ASEAN - cho thấy Đông Nam Á sở hữu tiềm năng lớn trong sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) từ phế thải nông lâm nghiệp. 

Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh Điện Biên cùng cán bộ, nhân dân xã Mường Nhà ra quân đào hố trồng cây cà-phê, mắc-ca trong ngày 2/4.

Lực lượng vũ trang tỉnh Điện Biên chung sức cùng nhân dân trồng mới cây cà-phê, mắc-ca

Chủ động triển khai kế hoạch trồng mới cây cà-phê, mắc-ca đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, ngày 2/4, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên tổ chức Hội nghị Ban Chỉ đạo thực hiện chiến dịch "Điện Biên Phủ trong thời bình cơ cấu lại ngành nông nghiệp..." (gọi tắt là BCĐ 1850) của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Điện Biên.

Hà Nội từng bước đẩy mạnh chuyển đổi phương tiện theo hướng hiện đại, thân thiện môi trường.

Từ ngày 1/4, Hà Nội vận hành 10 tuyến buýt điện

Từ ngày 1/4/2026, Hà Nội đưa vào vận hành 10 tuyến xe buýt điện với tổng số 288 phương tiện. Đây là bước tiến quan trọng trong lộ trình phát triển hệ thống vận tải công cộng xanh, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm thiểu ô nhiễm không khí đô thị. 

Rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: HỒNG ĐẠT)

Tạo nguồn lực tham gia thị trường tín chỉ carbon

Rừng ngập mặn phân bố tại các vùng chuyển tiếp giữa đất liền và đại dương là hệ sinh thái đặc biệt có năng suất sinh học cao, có khả năng tích lũy một lượng lớn carbon xanh trong sinh khối và trong đất.

Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh hướng đến mô hình thân thiện với môi trường. (Ảnh: KHÁNH TRÌNH)

Giúp doanh nghiệp bứt phá trong chuyển đổi xanh

Với những biến động khó lường về kinh tế, địa chính trị trên toàn cầu, yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh và bền vững không còn là lựa chọn dài hạn mà đã trở thành đòi hỏi cấp bách đối với nền kinh tế Việt Nam.