Sinh kế từ cây dược liệu ở vùng cao xứ Thanh

Mang lại thu nhập cao gấp 3-4 lần so trồng lúa và cây hoa màu khác, trồng cây dược liệu được xem là hướng đi mới đầy triển vọng được nhiều hộ dân tại các huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa mạnh dạn đầu tư, phát triển.
Tỉnh Thanh Hóa chủ trương đưa cây dược liệu trở thành một trong những cây trồng chủ lực tại các địa phương vùng cao.
Tỉnh Thanh Hóa chủ trương đưa cây dược liệu trở thành một trong những cây trồng chủ lực tại các địa phương vùng cao.

SAU thời gian trồng thử nghiệm cà gai leo, gia đình ông Nguyễn Đại Hải, xã Điền Trung, huyện Bá Thước đã mạnh dạn chuyển toàn bộ diện tích vườn tạp kém hiệu quả sang trồng loại cây này với sự hỗ trợ về giống, phân bón, kỹ thuật chăm sóc và đầu ra của Hợp tác xã Pù Luông. "Trồng cà gai leo mang lại hiệu quả cao gấp nhiều lần so trồng hoa màu trước kia. Mỗi năm, cà gai leo có thể thu hoạch được hai đến ba vụ, mang lại thu nhập từ 60-80 triệu đồng/ha/vụ", ông Hải cho biết.

Hiệu quả kinh tế của cây cà gai leo đã mở ra hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp, giúp chuyển đổi thành công cơ cấu giống cây trồng để nâng cao hiệu quả kinh tế, giúp người dân tăng thêm thu nhập, xóa đói, giảm nghèo. Theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bá Thước, năm 2022, toàn huyện có khoảng 14 hộ tham gia trồng cây dược liệu với diện tích khoảng 5,5ha. Dự kiến, trong năm 2023, Hợp tác xã Pù Luông sẽ phối hợp với người dân, phát triển khoảng 63ha cây dược liệu ở trên địa bàn huyện Bá Thước.

Phát huy lợi thế về thổ nhưỡng, khí hậu, đất rừng cùng với kinh nghiệm về chế biến và sử dụng cây thảo dược tự nhiên của người dân xã Thành Lâm, để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc bản địa - cây sói rừng, tháng 7/2021, Quỹ Môi trường toàn cầu (UNDP-GEF), Viện Môi trường và Phát triển bền vững (VESDI) phối hợp với UBND huyện Bá Thước tổ chức thực hiện dự án hỗ trợ cộng đồng địa phương phát triển bền vững cây sói rừng để cải thiện sinh kế tại xã Thành Lâm. Đến nay, dự án đã thu hút được 100 hộ dân trồng trong vườn nhà, vườn rừng, với diện tích khoảng 72ha. "Việc triển khai thực hiện dự án là rất cần thiết, không chỉ bảo tồn được loài cây thuốc bản địa mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân trên địa bàn. Địa phương đang phấn đấu đưa nhiều hơn sản phẩm từ cây sói rừng ra thị trường, không chỉ ở dạng sấy khô mà còn chế biến thành các sản phẩm hoàn chỉnh, đáp ứng được yêu cầu của thị trường", Chủ tịch UBND xã Thành Lâm Trịnh Văn Dũng chia sẻ.

Với mục tiêu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập, thực hiện có hiệu quả công cuộc giảm nghèo bền vững, từ tháng 3/2018, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thanh Hóa đã xây dựng mô hình trồng thử nghiệm cây dược liệu tại huyện Quan Sơn, quy mô 5ha với 30 hộ dân tham gia. Cũng theo đó, huyện Quan Sơn đã quy hoạch vùng trồng dược liệu tập trung có chất lượng cao tại khu Vũng Cộp, thuộc bản Chanh, xã Sơn Thủy, quy mô 250ha; đồng thời, mời doanh nghiệp tư nhân sản xuất thuốc y học cổ truyền vào đầu tư, liên kết sản xuất... Vũng Cộp có khí hậu ôn hòa, mát mẻ, đất đai phù hợp, nên cây dược liệu trồng nơi đây cho năng suất cao, chất lượng tốt. Sau gần 5 năm xây dựng, người dân xã Sơn Thủy đã phát triển được hàng trăm ha. Một số loại dược liệu mang lại giá trị kinh tế cao, như: mã tiền, hà thủ ô đạt 400 triệu đồng/ha; thổ phục linh đạt 200 triệu đồng/ha...

Còn Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (huyện Thường Xuân) có đặc điểm nóng ẩm, mưa nhiều, là điều kiện tốt để các loài cây dược liệu phát triển. Tại các xã Vạn Xuân, Luận Khê, Luận Thành, Xuân Cẩm, một số doanh nghiệp đã cùng các hộ dân liên kết trồng cây cát sâm, ký các hợp đồng cung cấp cây giống, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ và bao tiêu sản phẩm. Theo kế hoạch, từ năm 2023 trở đi, mỗi năm các hộ dân của ba xã này sẽ phát triển thêm khoảng 30ha cát sâm, tạo thành vùng nguyên liệu ổn định trên địa bàn.

TỈNH Thanh Hóa hiện có hơn 641 nghìn ha đất có rừng, trong đó 393 nghìn ha rừng tự nhiên với 529 loài dược liệu bản địa. Trong 5 năm qua, khu vực miền núi Thanh Hóa đã xây dựng được 16 mô hình dược liệu dưới tán rừng tự nhiên và rừng trồng, trong đó tập trung vào các loại dược liệu bản địa có giá trị kinh tế cao như: lan kim tuyến, ba kích, sa nhân, cát sâm, bảy lá một hoa, khôi tía,… Nhìn chung các loại dược liệu dưới tán rừng đều sinh trưởng tốt, cho năng suất và chất lượng tương đương sản phẩm thu hái từ tự nhiên. Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa Lê Đức Thuận cho biết: Đến nay, tỉnh đã có một lộ trình rõ ràng cùng một chiến lược dài hạn để đưa cây dược liệu trở thành một trong những cây trồng chủ lực, giúp người dân vùng cao thoát nghèo. Các địa phương đang tích cực hướng dẫn hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất cây dược liệu tổ chức lại sản xuất, thực hiện liên kết với doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

Để khai thác và phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của các huyện miền núi; đẩy mạnh phát triển kinh tế, thu hẹp khoảng cách về mức sống, thu nhập của người dân miền núi so miền xuôi, ngày 24/11/2022, UBND tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt Đề án "Phát triển các mô hình cây trồng, vật nuôi, dược liệu, sản phẩm có lợi thế khu vực miền núi tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2022-2025". Mục tiêu đến năm 2025, phát huy được 33 đối tượng mô hình cây trồng, vật nuôi, dược liệu, sản phẩm lợi thế để xây dựng các mô hình phát triển sản xuất phù hợp từng vùng, miền; khai thác tiềm năng lợi thế của khu vực miền núi; tạo sinh kế, việc làm cho khoảng 3.500 hộ gia đình khu vực miền núi của tỉnh.

Trong thời gian tới, Thanh Hóa sẽ đẩy mạnh nghiên cứu và nhân rộng các mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng đã thành công, giúp người dân đa dạng sinh kế thoát nghèo bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.