Phát triển thị trường carbon

Giảm phát thải khí nhà kính (KNK) thông qua tài chính carbon được coi là xúc tác thúc đẩy tiếp cận năng lượng tái tạo. Đây cũng là một trong những mục tiêu nhằm tiến tới đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Tại Nghị định 06/2022/NĐ-CP ngày 7/1/2022 quy định lộ trình phát triển thị trường carbon trong nước và thực hiện các dự án trao đổi tín dụng trong nước và quốc tế.
Thị trường tín chỉ carbon sẽ là cú huých cần thiết để thúc đẩy bảo vệ môi trường và bảo đảm sự phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế xanh. Ảnh: NAM ANH
Thị trường tín chỉ carbon sẽ là cú huých cần thiết để thúc đẩy bảo vệ môi trường và bảo đảm sự phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế xanh. Ảnh: NAM ANH

Trao đổi, mua bán phát thải

Dẫn nguồn unfccc.int, ông Hoàng Thanh Hà (Tổ chức phát triển Hà Lan - SNV) chia sẻ, các loại KNK, nổi bật là carbon dioxide (CO2) thể hiện tiềm năng nóng lên toàn cầu (GWP) là 1 với tỷ lệ 76%, methane (CH4) là 28 với 16%... Do đó, kịch bản nóng lên toàn cầu với nhiệt độ bề mặt trái đất tăng 4oC vào cuối thế kỷ 21 có thể xảy ra nếu không có hành động của các quốc gia, tổ chức và các cá nhân.

“Các phương án giảm phát thải KNK đặt ra bốn lựa chọn cho doanh nghiệp: Nộp phí phạt hoặc thuế; tự giảm phát thải tại cơ sở sản xuất; mua tín chỉ giảm phát thải trên thị trường; đầu tư, thực hiện dự án giảm phát thải carbon tại nước khác”, ông Hoàng Thanh Hà thông tin. Đồng thời giải thích, thị trường carbon (thị trường trao đổi tín chỉ giảm phát thải KNK), hay tín chỉ carbon là một loại hình thị trường mà hàng hóa được mua và bán trong thị trường, là lượng KNK được cắt giảm của một đơn vị phát thải/hấp thụ khi hoạt động giữa bên mua và bên bán.

Các bên tham gia mua/bán có thể là các doanh nghiệp trong nước trao đổi với nhau, hoặc giữa các tổ chức trong nước và quốc tế (có thể các tổ chức tài chính, hoặc doanh nghiệp). Trong đó, một bên sẽ trả tiền cho một bên khác để đổi lại một lượng nhất định giảm phát thải KNK. Nguồn doanh thu từ tín chỉ carbon (tài chính carbon) là nguồn hỗ trợ tài chính cho các dự án giảm (hay dự kiến làm giảm) phát thải KNK dưới dạng đặt mua lượng giảm phát thải này.

Cũng theo ông Hoàng Thanh Hà, hiện các dự án giảm phát thải KNK về điện khí, điện than, điện dầu, năng lượng tái tạo để hòa vào lưới điện quốc gia sẽ tạo ra phát thải Baseline. Riêng dự án điện khí sinh học sẽ không phát thải. Giảm phát thải ER = phát thải Baseline - 0. Bù đắp carbon theo hạn ngạch phát thải hiện tại theo trần phát thải quy định. Mức phát thải vượt quá quy định sẽ bị buộc phải đóng phí phạt, hoặc chuyển giao tín chỉ.

Tại thời điểm 1/2022, 25 thị trường mua bán phát thải (ETS) đã vận hành, bảy quốc gia dự kiến đưa vào vận hành trong vài năm tới, 15 quốc gia đang cân nhắc. Thị trường giảm phát thải tự nguyện (VCM) đã xuất hiện trước thị trường tuân thủ. Các công ty không nằm trong thị trường tuân thủ muốn giảm, hoặc bù đắp phát thải carbon của chính họ. VCM là không bắt buộc, do đó nhiều tổ chức riêng rẽ bắt đầu xây dựng các tiêu chuẩn riêng để chứng nhận tín chỉ carbon. VCM bắt đầu phát triển mạnh vào những năm 2005-2006, khi các tiêu chuẩn chứng nhận giảm phát thải carbon ra đời (tiêu chuẩn VCS). “Người mua chứng chỉ tự nguyện luôn quan tâm đến “câu chuyện đằng sau” của dự án, cụ thể là các lợi ích kèm theo như công ăn việc làm cho người bản địa, bảo vệ hệ sinh thái và các cải thiện về sức khỏe”, ông Hoàng Thanh Hà chỉ ra.

Thực hiện mục tiêu NZ

Thực tế cho thấy, ngành năng lượng đóng vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế. Nhưng theo thống kê, ngành năng lượng phát thải khoảng 65% tổng phát thải của toàn bộ nền kinh tế (nguồn: NDC 2020). Tỷ trọng các nguồn năng lượng sơ cấp, than (50,25%) và dầu (25,92%) là nguồn năng lượng sơ cấp chính (số liệu năm 2019). Tỷ trọng năng lượng tái tạo còn rất thấp: Thủy điện (14,19%), mặt trời (0,91%), gió (0,11%) và các nguồn khác (0,02%). Năm 2019, Việt Nam nhập khẩu 43,8 triệu tấn than, trong đó 17 triệu tấn dành cho phát điện.

Về chi phí để tiến tới phát thải ròng bằng “0” (Net zero - NZ), theo Viện Năng lượng, Việt Nam cần đầu tư 532 tỷ USD vào nguồn phát điện và hệ thống truyền tải trong giai đoạn 2021-2045. Báo cáo Vietnam Energy Outlook Report 2021 ước tính cần mức đầu tư hằng năm là 167 tỷ USD (trong đó 106 tỷ USD cho năng lượng tái tạo, 54 tỷ USD cho lưu trữ và 7 tỷ USD cho hệ thống truyền tải liên vùng), vào năm 2050 theo kịch bản NZ, tương ứng với 11% GDP dự kiến vào năm 2020 và gấp 5-6 lần mức đầu tư theo kịch bản cơ sở.

Về hình thành thị trường carbon, Việt Nam cam kết với nguồn lực trong nước, đến năm 2030 sẽ giảm 9% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát thải thông thường (BAU). Mức độ cam kết này có thể tăng lên 27% nếu nhận được sự hỗ trợ từ quốc tế. Luật Bảo vệ môi trường 2020, tổ chức và phát triển thị trường carbon (Điều 139), theo đó thị trường carbon trong nước bao gồm các hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải KNK và tín chỉ carbon thu được từ cơ chế trao đổi, bù đắp trong nước và quốc tế.

Tại Hội nghị COP26 vào tháng 11/2021 tại Glasgow, Vương quốc Anh, Thủ tướng Chính phủ đã tuyên bố về việc đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Nghị định 06/2022/NĐ-CP ngày 7/1/2022 quy định lộ trình phát triển thị trường carbon trong nước và thực hiện các dự án trao đổi tín dụng trong nước và quốc tế. Đối với lộ trình phát triển thị trường carbon Việt Nam, giai đoạn đến hết năm 2027, xây dựng quy định quản lý tín chỉ carbon, hoạt động trao đổi hạn ngạch và tín chỉ carbon; xây dựng quy chế vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon; triển khai thí điểm cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong các lĩnh vực tiềm năng và hướng dẫn thực hiện cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon; thành lập và tổ chức vận hành thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon kể từ năm 2025; triển khai các hoạt động tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức về phát triển thị trường carbon. Từ năm 2028, tổ chức vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon chính thức, quy định các hoạt động kết nối, trao đổi tín chỉ carbon trong nước với thị trường carbon khu vực và thế giới.

Về mở rộng tiếp cận năng lượng tái tạo thông qua tài chính carbon, ông Hoàng Thanh Hà dẫn dụ điển hình dự án chương trình khí sinh học cho ngành chăn nuôi Việt Nam có 53 tỉnh, thành phố tham gia với 181.683 công trình. 1.600 thợ xây, thợ lắp được đào tạo; tạo ra ít nhất 2.500 việc làm cho hoạt động xây dựng và dịch vụ biogas, đem lại lợi ích cho một triệu người dân ở khu vực nông thôn.

Theo ông Lương Quang Huy, Trưởng phòng Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon (Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường), Việt Nam cam kết đến năm 2030 cắt giảm 9% phát thải KNK và sẽ đạt 27% với sự hỗ trợ của quốc tế. Cam kết này sẽ cần được cập nhật vào năm 2022 để phù hợp với mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Có thể bạn quan tâm

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Khách xếp hàng để mua bán vàng . Ảnh: NGUYỆT ANH

Cuộc đại phẫu thị trường vàng

Cơn sóng bán vàng những ngày gần đây phơi bày những điểm yếu lâu năm về thanh khoản, nguồn gốc hàng hóa và cơ chế định giá. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trước khi đạt được đích đến, một thị trường thực sự minh bạch, liên thông và bớt méo mó.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.

Người trẻ mua chứng chỉ quỹ

Công ty chứng khoán (CTCK) SSI vừa công bố việc tích hợp các quỹ mở do Dragon Capital Việt Nam (DCVFM) quản lý lên hệ thống giao dịch SSI iBoard. Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư (NĐT) có tài khoản của SSI ngoài việc theo dõi các chứng chỉ quỹ (CCQ) của SSI quản lý còn theo dõi được thêm CCQ của DCVFM.

Hàng tồn kho là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận chưa thể chuyển hóa thành tiền mặt. Ảnh: NAM ANH

Dòng tiền mới là phép thử

Dù lợi nhuận vẫn hiện hữu trên báo cáo tài chính, nhưng dòng tiền kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bất động sản lại tiếp tục âm. Khoảng cách kéo dài giữa “lãi trên sổ sách” và “tiền thật” có thể biến thành áp lực thanh khoản, đặc biệt với doanh nghiệp có nợ ngắn hạn lớn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nút thắt “tiêu chí” của dòng vốn xanh

Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH

“Hòn đá tảng” của thị trường chứng khoán

Trong các báo cáo phân loại thị trường hằng năm, tình trạng hết tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room ngoại) liên tục được một công ty tài chính đa quốc gia (MSCI - Mỹ) nhắc đến như một hạn chế lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nhà đầu tư tìm hiểu thông tin về dự án tại sàn giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Bất động sản không còn là cuộc chơi của kỳ vọng

Sau một chu kỳ tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự thay đổi tâm lý của nhà đầu tư, từ kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá sang tìm kiếm dòng tiền khai thác. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã không còn tin tuyệt đối vào khả năng tăng giá liên tục của bất động sản.

Tư vấn cho khách hàng vay mua bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn đang được phân loại theo giá trị

Nếu trước đây tín dụng bất động sản chủ yếu được nhìn dưới góc độ rủi ro và cần kiểm soát chặt, thì quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ nhu cầu thực như nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính Mỹ vừa công bố Tuyên bố chung về tiền tệ, tái khẳng định cam kết hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ Đối thoại Chính sách Tài chính vĩ mô Việt Nam - Mỹ, nhấn mạnh việc tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế liên quan chính sách tỷ giá và tiền tệ.

Mới nhưng không lạ

Có thể nói, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang ở giai đoạn phân hoá khốc liệt bậc nhất trong lịch sử. 

Nhiều ngân hàng lớn đang chuẩn bị triển khai các kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh trái phiếu. Ảnh: NAM ANH

Sự đảo chiều trên thị trường trái phiếu

Ngân hàng vốn được xem là khu vực “khỏe” nhất trên thị trường vốn, nhưng nay cũng đã bước vào cuộc đua huy động trái phiếu với mức lãi suất tiệm cận lãi vay. Nhiều đợt phát hành trái phiếu gần đây của các ngân hàng ghi nhận lãi suất lên tới 8-9%/năm, cao hơn đáng kể so cùng kỳ năm trước.

Các hãng hàng không linh hoạt áp dụng nhiều giải pháp để tiết giảm chi phí. Ảnh: KỲ DUYÊN

Kích cầu hàng không, du lịch để thúc đẩy tăng trưởng

Cú sốc giá nhiên liệu đặt các hãng hàng không và lữ hành đứng trước thử thách mới, không chỉ là cạnh tranh về giá mà phải xem xét trong tổng thể chuỗi vận tải-lưu trú-dịch vụ-điểm đến và đặc biệt là phải xây dựng nền tảng phát triển bền vững để thích ứng tốt hơn trong bối cảnh thị trường liên tục thay đổi.

Đừng chủ quan với “hàng cơ bản”

“Hàng cơ bản” là khái niệm chỉ cổ phiếu (CP) của doanh nghiệp (DN) có vị thế đầu ngành, thương hiệu lớn và nền tảng kinh doanh vững chắc. Nhưng trong thời gian gần đây, không ít hàng cơ bản vẫn có thể giảm giá 15-20% chỉ trong thời gian ngắn, đưa không ít nhà đầu tư (NĐT) vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Tính đến nay, đã có 42 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất lại gặp áp lực

Khi tín dụng tăng nhanh còn tiền gửi tăng chậm, áp lực lãi suất bắt đầu quay lại hệ thống ngân hàng. Ở mặt khác, ngân hàng đang chịu áp lực phải bảo đảm mức lãi vay ở mức thấp nhất có thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.

Những dự án được đầu tư hạ tầng đồng bộ thường ghi nhận giá trị bất động sản tăng rõ rệt. Ảnh: NAM ANH

“Cơn sốt” kỳ vọng của bất động sản

Liên tiếp các dự án hạ tầng lớn được công bố, giá chào bán bất động sản tại nhiều nơi bị đẩy lên cao. Các chuyên gia cảnh báo, thị trường đang được dẫn dắt bởi kỳ vọng nhiều hơn nền tảng.

Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đồng loạt điều chỉnh hạ lãi suất. Ảnh: NAM ANH

Thế khó của ngành ngân hàng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng đang hoạt động trong bối cảnh nhiều sức ép đan xen. Các ngân hàng một mặt phải thực hiện yêu cầu giảm lãi suất, mặt khác, mục tiêu tăng trưởng được điều chỉnh thấp hơn so với năm 2025.

Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất 2.

Nhiều vướng mắc ngăn bước các đại dự án

Nhiều dự án công nghiệp và hạ tầng quy mô lớn đang gặp khó trong việc đạt các mốc tiến độ đã đặt ra. Vướng mắc về mặt bằng, tái định cư và thủ tục liên quan vẫn là những lý do "muôn thuở".