“Hòn đá tảng” của thị trường chứng khoán

Trong các báo cáo phân loại thị trường hằng năm, tình trạng hết tỷ lệ sở hữu nước ngoài (room ngoại) liên tục được một công ty tài chính đa quốc gia (MSCI - Mỹ) nhắc đến như một hạn chế lớn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH
Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài. Ảnh: NAM ANH

Rạng sáng 19/6, MSCI công bố báo cáo “Đánh giá khả năng tiếp cận thị trường toàn cầu 2026”. Báo cáo ghi nhận thị trường chứng khoán Việt Nam đã có nhiều cải thiện. Tuy nhiên, những vấn đề như chất lượng công bố thông tin bằng tiếng Anh và cơ chế thanh toán, đặc biệt là giới hạn sở hữu nước ngoài vẫn là những hạn chế của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Có cổ phiếu nhưng nhà đầu tư nước ngoài không thể mua

Theo báo cáo, nhiều doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực có điều kiện hoặc nhạy cảm vẫn bị giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài từ 0% đến 75%. Các quy định này hiện ảnh hưởng tới hơn 10% thị trường cổ phiếu Việt Nam.

Về lý thuyết, việc giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại một số lĩnh vực đặc thù là cần thiết để bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, an ninh kinh tế hoặc tính ổn định của hệ thống. Tuy nhiên, khi phạm vi hạn chế còn rộng, nhà đầu tư quốc tế có thể gặp khó khăn trong việc tiếp cận những doanh nghiệp có quy mô lớn, hiệu quả kinh doanh tốt hoặc giữ vai trò đại diện cho từng ngành.

Nút thắt sở hữu nước ngoài càng bộc lộ rõ khi nhiều cổ phiếu hấp dẫn đã kín room. Dù doanh nghiệp vẫn niêm yết, có quy mô vốn hóa lớn và thanh khoản cao, nhà đầu tư quốc tế cũng không thể mua thêm cổ phiếu theo phương thức thông thường.

Để tiếp cận những mã này, họ đôi khi phải nhận chuyển nhượng từ một nhà đầu tư nước ngoài khác với mức giá cao hơn đáng kể so với thị giá. MSCI xem phần chênh lệch này là một dạng chi phí giao dịch ẩn, làm suy giảm tính bình đẳng giữa các nhóm nhà đầu tư.

Tình trạng trên thể hiện rõ ở nhóm ngân hàng, nơi tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các ngân hàng thương mại cổ phần thường bị giới hạn ở mức 30%. Những cổ phiếu được khối nước ngoài quan tâm như Vietcombank hay Techcombank nhiều thời điểm gần như không còn dư địa để mua thêm.

Một số mã thuộc nhóm chứng khoán và bất động sản cũng thường xuyên kín room nhờ triển vọng tăng trưởng và khả năng hưởng lợi từ sự mở rộng của thị trường. Bởi vậy, mỗi khi xuất hiện thông tin nới room hoặc có lượng cổ phiếu dành cho khối nước ngoài được bán ra, nhu cầu mua thường tăng mạnh.

Tình trạng kín room còn có thể làm giảm tỷ trọng của Việt Nam trong các bộ chỉ số quốc tế. Với những quỹ đầu tư quy mô lớn, việc không mua được các mã đại diện khiến danh mục khó phản ánh đầy đủ cấu trúc và quy mô của thị trường. Quỹ có thể phải chấp nhận sai lệch so với chỉ số tham chiếu hoặc tập trung vốn vào số ít cổ phiếu còn room. Vì thế, một thị trường dù có vốn hóa lớn vẫn chưa chắc cung cấp đủ lượng tài sản mà nhà đầu tư quốc tế có thể đầu tư.

Trong báo cáo của MSCI còn lưu ý nhà đầu tư nước ngoài vẫn phải thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư và mở tài khoản thông qua Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC). Một số giao dịch chuyển nhượng ngoài sàn dù đã được nới lỏng thủ tục nhưng vẫn mất vài ngày để hoàn tất việc rà soát hồ sơ.

Trong khi đó, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng, vai trò của khối nước ngoài cũng không chỉ được đo bằng quy mô dòng tiền. Sự hiện diện của các nhà đầu tư quốc tế còn tạo sức ép tích cực lên quản trị doanh nghiệp, chất lượng công bố thông tin và mức độ tuân thủ các chuẩn mực thị trường. Dòng vốn nước ngoài vì vậy thường được xem là một thước đo về niềm tin, đồng thời góp phần thúc đẩy thị trường vốn phát triển minh bạch và chuyên nghiệp hơn.

“Cởi” nhưng có nên “mở toang”?

Bàn về vấn đề này, TS Trần Thăng Long, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Chứng khoán BIDV (BSC) cho rằng, các quốc gia phát triển thường không áp dụng trần sở hữu nước ngoài trên diện rộng. Thay vào đó, họ chủ yếu kiểm soát những thương vụ mua lại có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, tập trung vào một số lĩnh vực đặc thù như quốc phòng, an ninh và hạ tầng trọng yếu. Tại các nền kinh tế đang phát triển, phạm vi và mức độ giới hạn sở hữu nước ngoài có sự khác biệt, tùy thuộc vào trình độ phát triển cũng như định hướng quản lý của từng quốc gia.

Tại Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài hiện nắm khoảng 12-16% tổng giá trị vốn hóa của thị trường niêm yết, tương đương khoảng 1,2 triệu tỷ đồng, hay 46-49 tỷ USD. Đây không chỉ là nguồn vốn có tính dài hạn mà còn góp phần hỗ trợ quá trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước và nâng cao tính minh bạch của thị trường.

Theo ông Long, một thị trường vốn hiện đại không thể chỉ được đánh giá bằng khả năng thu hút dòng tiền từ bên ngoài. Mức độ mở cửa còn thể hiện ở việc thị trường tiếp nhận và áp dụng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp, công bố thông tin và thực hành ESG (tiêu chuẩn đo lường bền vững của doanh nghiệp). Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi Việt Nam đang hướng tới vị thế thị trường mới nổi. Vì vậy, việc mở rộng room ngoại cần được thực hiện có chọn lọc, trước hết tại những ngành không liên quan trực tiếp đến an ninh, quốc phòng hoặc các lợi ích chiến lược.

Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp không thuộc nhóm ngành bị hạn chế vẫn chủ động đặt tỷ lệ sở hữu nước ngoài ở mức rất thấp, thậm chí bằng 0%. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tâm lý lo ngại bị thâu tóm hoặc e ngại những khó khăn trong quản lý cơ cấu cổ đông có yếu tố nước ngoài.

Để tháo gỡ nút thắt này, ông Long cho rằng, cần rà soát lại danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo Nghị định 31/2021/NĐ-CP. Một số lĩnh vực như logistics hay dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cần được đánh giá lại để xác định mức độ nhạy cảm thực tế, thay vì duy trì giới hạn trên phạm vi quá rộng.

Bên cạnh đó, Việt Nam có thể nghiên cứu áp dụng chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết - NVDR, mô hình đã được triển khai tại Thái Lan. Công cụ này cho phép nhà đầu tư nước ngoài hưởng các lợi ích kinh tế từ cổ phiếu nhưng không làm thay đổi quyền biểu quyết và cơ cấu kiểm soát doanh nghiệp. Đồng thời, việc sửa đổi Luật Đầu tư theo hướng quy định cụ thể các ngành bị cấm hoặc giới hạn sở hữu nước ngoài sẽ giúp thu hẹp khoảng trống pháp lý, qua đó hạn chế tình trạng doanh nghiệp tự đóng room vì tâm lý phòng thủ.

Đồng quan điểm, ông Daniel Clark, Giám đốc toàn cầu chứng chỉ lưu ký của Deutsche Bank cho biết thêm, mỗi doanh nghiệp cần chủ động xây dựng một câu chuyện tăng trưởng dài hạn, rõ ràng và đủ sức thuyết phục nhà đầu tư quốc tế. Ban lãnh đạo cũng phải cân nhắc liệu các lựa chọn như niêm yết ở nước ngoài, phát hành chứng chỉ lưu ký Mỹ (ADR), chứng chỉ lưu ký toàn cầu (GDR) hay tận dụng cơ hội từ Trung tâm Tài chính Quốc tế trong tương lai có thật sự phù hợp với chiến lược phát triển của doanh nghiệp hay không.

Tương tự, ông Bùi Hoàng Hải, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cũng nhấn mạnh, khi các rào cản kỹ thuật từng bước được tháo gỡ, khả năng thu hút vốn sẽ phụ thuộc ngày càng lớn vào chất lượng nội tại của doanh nghiệp, thay vì chỉ trông chờ vào chính sách. Theo ông Hải, dòng vốn toàn cầu luôn đi cùng niềm tin, trong khi niềm tin chỉ được tạo dựng từ sự minh bạch, nền tảng quản trị vững chắc, hiệu quả kinh doanh và khả năng duy trì đối thoại thường xuyên với cổ đông.

Theo đánh giá từ JP Morgan (một trong những tập đoàn dịch vụ tài chính và ngân hàng đầu tư lớn, lâu đời và uy tín nhất thế giới) và ngân hàng HSBC, nếu không giải quyết được bài toán room ngoại, việc nâng hạng sẽ tiếp tục bị trì hoãn từ MSCI. Chứng khoán Việt Nam có thể bị bỏ lỡ dòng vốn thụ động 10 - 15 tỷ USD.

Có thể bạn quan tâm

Khả năng tiếp cận nguồn vốn mới của nhóm doanh nghiệp bất động sản sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức. Ảnh: NGUYỆT ANH

Bài kiểm tra của doanh nghiệp bất động sản

Khi nguồn vốn không còn rẻ, doanh nghiệp buộc phải chấp nhận chi phí tài chính cao hơn để đổi lấy khả năng huy động vốn. Điều đó cũng đồng nghĩa chỉ doanh nghiệp có dòng tiền đủ mạnh và dự án hiệu quả mới có thể “sống khỏe”.

Người dân lựa chọn gửi tiền tiết kiệm để bảo toàn vốn khi các kênh đầu tư khác còn nhiều biến động. Ảnh: NAM ANH

Tiền gửi lập kỷ lục, lãi suất leo cao

Nghịch lý này cho thấy hệ thống đang chịu áp lực tìm kiếm nguồn vốn đúng kỳ hạn, đủ ổn định và phân bổ đúng nơi để theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Khách xếp hàng để mua bán vàng . Ảnh: NGUYỆT ANH

Cuộc đại phẫu thị trường vàng

Cơn sóng bán vàng những ngày gần đây phơi bày những điểm yếu lâu năm về thanh khoản, nguồn gốc hàng hóa và cơ chế định giá. Vẫn còn rất nhiều vấn đề trước khi đạt được đích đến, một thị trường thực sự minh bạch, liên thông và bớt méo mó.

Không gian Thế giới kim cương tại các trung tâm thương mại lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh.

“Vùng trũng” quản lý tài sản có giá trị

Kim cương có giá trị hàng trăm triệu đến vài tỷ đồng, thậm chí được xem như một kênh tích trữ, nhưng vẫn được giao dịch trong một thị trường thiếu tiêu chuẩn thống nhất, truy xuất nguồn gốc và cơ chế bảo vệ người mua.

Với lực lượng lao động trẻ, Việt Nam có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Ảnh: NAM ANH

Giữ lợi thế thu hút FDI bằng môi trường đầu tư

Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng vẫn mở ra cơ hội cho Việt Nam. Tuy nhiên, để duy trì sức hút với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng môi trường đầu tư.

Doanh nghiệp bất động sản đang phải cạnh tranh quyết liệt hơn để thu hút vốn. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn triệu USD đổi “khẩu vị”

Thị trường mua bán sáp nhập (M&A) bất động sản đang bước sang một chu kỳ thận trọng hơn. Nhà đầu tư yêu cầu dự án phải chứng minh được pháp lý, tiến độ, hiệu quả khai thác và dòng tiền.

Việc nâng trần lên 40% sẽ giúp các ngân hàng có thêm dư địa cho vay trung, dài hạn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Hướng đi của dòng tiền mới được “mở van”

Việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được đánh giá sẽ mở thêm không gian tín dụng, với hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng đặt ra lo ngại về hướng đi của lượng vốn mới này.

Người trẻ mua chứng chỉ quỹ

Công ty chứng khoán (CTCK) SSI vừa công bố việc tích hợp các quỹ mở do Dragon Capital Việt Nam (DCVFM) quản lý lên hệ thống giao dịch SSI iBoard. Điều này đồng nghĩa nhà đầu tư (NĐT) có tài khoản của SSI ngoài việc theo dõi các chứng chỉ quỹ (CCQ) của SSI quản lý còn theo dõi được thêm CCQ của DCVFM.

Hàng tồn kho là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận chưa thể chuyển hóa thành tiền mặt. Ảnh: NAM ANH

Dòng tiền mới là phép thử

Dù lợi nhuận vẫn hiện hữu trên báo cáo tài chính, nhưng dòng tiền kinh doanh của nhiều doanh nghiệp bất động sản lại tiếp tục âm. Khoảng cách kéo dài giữa “lãi trên sổ sách” và “tiền thật” có thể biến thành áp lực thanh khoản, đặc biệt với doanh nghiệp có nợ ngắn hạn lớn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Ảnh: NGUYỆT ANH

Nút thắt “tiêu chí” của dòng vốn xanh

Tín dụng xanh tại Việt Nam tăng trưởng tích cực nhưng chủ yếu tập trung vào các dự án lớn. Doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận do nút thắt tiêu chí về môi trường, dữ liệu và quản trị.

Nhà đầu tư tìm hiểu thông tin về dự án tại sàn giao dịch bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Bất động sản không còn là cuộc chơi của kỳ vọng

Sau một chu kỳ tăng nóng kéo dài, thị trường bất động sản đang chứng kiến sự thay đổi tâm lý của nhà đầu tư, từ kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giá sang tìm kiếm dòng tiền khai thác. Sự thay đổi này bắt nguồn từ việc nhà đầu tư đã không còn tin tuyệt đối vào khả năng tăng giá liên tục của bất động sản.

Tư vấn cho khách hàng vay mua bất động sản. Ảnh: NAM ANH

Dòng vốn đang được phân loại theo giá trị

Nếu trước đây tín dụng bất động sản chủ yếu được nhìn dưới góc độ rủi ro và cần kiểm soát chặt, thì quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) được xem là bước điều chỉnh quan trọng nhằm định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phục vụ nhu cầu thực như nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam - Mỹ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính Mỹ vừa công bố Tuyên bố chung về tiền tệ, tái khẳng định cam kết hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ Đối thoại Chính sách Tài chính vĩ mô Việt Nam - Mỹ, nhấn mạnh việc tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế liên quan chính sách tỷ giá và tiền tệ.

Mới nhưng không lạ

Có thể nói, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang ở giai đoạn phân hoá khốc liệt bậc nhất trong lịch sử. 

Nhiều ngân hàng lớn đang chuẩn bị triển khai các kế hoạch huy động vốn quy mô lớn qua kênh trái phiếu. Ảnh: NAM ANH

Sự đảo chiều trên thị trường trái phiếu

Ngân hàng vốn được xem là khu vực “khỏe” nhất trên thị trường vốn, nhưng nay cũng đã bước vào cuộc đua huy động trái phiếu với mức lãi suất tiệm cận lãi vay. Nhiều đợt phát hành trái phiếu gần đây của các ngân hàng ghi nhận lãi suất lên tới 8-9%/năm, cao hơn đáng kể so cùng kỳ năm trước.

Các hãng hàng không linh hoạt áp dụng nhiều giải pháp để tiết giảm chi phí. Ảnh: KỲ DUYÊN

Kích cầu hàng không, du lịch để thúc đẩy tăng trưởng

Cú sốc giá nhiên liệu đặt các hãng hàng không và lữ hành đứng trước thử thách mới, không chỉ là cạnh tranh về giá mà phải xem xét trong tổng thể chuỗi vận tải-lưu trú-dịch vụ-điểm đến và đặc biệt là phải xây dựng nền tảng phát triển bền vững để thích ứng tốt hơn trong bối cảnh thị trường liên tục thay đổi.

Đừng chủ quan với “hàng cơ bản”

“Hàng cơ bản” là khái niệm chỉ cổ phiếu (CP) của doanh nghiệp (DN) có vị thế đầu ngành, thương hiệu lớn và nền tảng kinh doanh vững chắc. Nhưng trong thời gian gần đây, không ít hàng cơ bản vẫn có thể giảm giá 15-20% chỉ trong thời gian ngắn, đưa không ít nhà đầu tư (NĐT) vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Tính đến nay, đã có 42 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất lại gặp áp lực

Khi tín dụng tăng nhanh còn tiền gửi tăng chậm, áp lực lãi suất bắt đầu quay lại hệ thống ngân hàng. Ở mặt khác, ngân hàng đang chịu áp lực phải bảo đảm mức lãi vay ở mức thấp nhất có thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.

Những dự án được đầu tư hạ tầng đồng bộ thường ghi nhận giá trị bất động sản tăng rõ rệt. Ảnh: NAM ANH

“Cơn sốt” kỳ vọng của bất động sản

Liên tiếp các dự án hạ tầng lớn được công bố, giá chào bán bất động sản tại nhiều nơi bị đẩy lên cao. Các chuyên gia cảnh báo, thị trường đang được dẫn dắt bởi kỳ vọng nhiều hơn nền tảng.

Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đồng loạt điều chỉnh hạ lãi suất. Ảnh: NAM ANH

Thế khó của ngành ngân hàng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng đang hoạt động trong bối cảnh nhiều sức ép đan xen. Các ngân hàng một mặt phải thực hiện yêu cầu giảm lãi suất, mặt khác, mục tiêu tăng trưởng được điều chỉnh thấp hơn so với năm 2025.

Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất 2.

Nhiều vướng mắc ngăn bước các đại dự án

Nhiều dự án công nghiệp và hạ tầng quy mô lớn đang gặp khó trong việc đạt các mốc tiến độ đã đặt ra. Vướng mắc về mặt bằng, tái định cư và thủ tục liên quan vẫn là những lý do "muôn thuở".

Trụ cột an sinh mới từ quỹ hưu trí bổ sung

Trụ cột an sinh mới từ quỹ hưu trí bổ sung

Sau 10 năm thí điểm, khuôn khổ pháp lý cho chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung đã được hoàn thiện nhằm góp phần đa dạng hóa hệ thống an sinh xã hội, tăng thu nhập cho người lao động khi về hưu. Đây cũng là một công cụ tài chính hỗ trợ phát triển thị trường vốn trong dài hạn.