Niềm hạnh phúc thẳm sâu

Vị bác sĩ Tô Côn từng có nhiều năm điều trị sức khỏe ở một khoa tâm thần của bệnh viện Thường Tín. Ông nghỉ hưu đã lâu, vẫn đi châm cứu điều trị thiện nguyện cho những người cô đơn, ốm đau, neo khó. Lặng lẽ như vậy nhiều năm. Ông sống một mình ở căn hộ chung cư cũ gần nhà máy rượu Hà Nội; vợ ông, một viên chức theo con ngụ cư ở nước Đức.
Minh họa: NGUYỄN MINH
Minh họa: NGUYỄN MINH

Bệnh nghề nghiệp, quen đối mặt với sự cô độc, đối mặt với sự khốn khổ vì bệnh tật chiếm hữu cơ thể con người, nhất là người ở dạng thần kinh thể nhẹ. Và ông vẫn sẵn lòng đi cứu giúp người bệnh hằng ngày, coi đó là niềm hạnh phúc của mình.

Một chiều muộn, sau khi chữa cho một bà cụ láng giềng gần nhà tôi, tôi mới được nghe câu chuyện: Số là nhớ lại nhiều đêm thức trắng, phải lắng nghe chuyện của người bệnh khi họ còn tỉnh táo, để điều chỉnh thuốc men cho họ. Ông vui khi người bệnh tỉnh táo như người bình thường. Có nhiều phận người chữa trị, có trường hợp khỏe lại, cũng có người thì không; người rời cõi tạm nhiều lắm. Nhưng trong nghề ông vẫn hay tự hỏi: Đàn bà sâu sắc hay nông nổi đây? Vì đâu đến nỗi.

*

Chuyện này rơi vào năm còn thời bao cấp, đời sống miền bắc còn ở thời kỳ gieo neo, ngày thường nhật, người dân phải lo cơm áo còn chật vật lắm. Vào viện, năm đó có một bệnh nhân nữ ngơ ngẩn không biết gì. Cô ta tên Vy, người mặn mà xinh xắn, đặc biệt cặp mắt to, đen, rờm rợp trong cái nhìn hoang dại. Rồi điều trị mãi nửa năm, cô ấy ổn định trở lại. Người bệnh này có chồng làm giảng viên đại học, hai người có một cậu con trai. Có một đêm cô Vy khá tỉnh táo, còn cười cười nói với bác sĩ: “em mắc tội, tội ngoại tình có chữa được không, bác sĩ?”. Bác sĩ Côn nói rắn: “Chữa được chứ! Nếu chị không nghĩ đến nhân vật thứ ba kia, thì sẽ chóng khỏi thôi” - Vâng! Vy đáp rất ngoan. Giờ, thì em làm sao yêu được hắn nữa, khi mà hắn đã chết. Đáng đời.

“Ừ. Đáng đời!”. Vy tự đáp lại: Rồi tự kể, hồi đó em ngoại tình với một tay họa sĩ, mấy năm giời bỏ bê gia đình, bỏ bê chồng, con. Mãi về sau, tay người tình đi giật lùi, ngắm nghía tranh vẽ của mình trên tầng 2 sân nhà, thế quái nào mà người rơi đánh bộp như quả mít rụng… Hắn từng là học trò cũ của chồng em. Chồng em biết hết và tha thứ hết. Nhưng em thì không thể tha thứ cho cách nghĩ nông nổi của mình. Khi em từng giây phút tôn thờ tình yêu, ngỡ tình yêu là duy nhất mà chàng dành cho em. Hắn có nhà cửa, vợ đẹp và con gái xinh xắn, không hiểu sao hắn còn si mê em nữa, khi đó em làm người mẫu cho hắn vẽ nuy. Nhưng khi hắn chết đột ngột, thì em được chính vợ hắn kể lại. Vợ hắn cũng không hề hay biết em từng là người tình của hắn. Thế mới khốn nạn cho em. Số là hôm đưa tang người tình họa sĩ, có một người thiếu phụ đã đưa cậu con trai độ 5 tuổi đến, nghe o ấy nói tiếng Huế, giọng rất dễ thương:

“Xin phép chị, xin phép vợ của anh Tuệ cho con trai em thắp hương cho người cha của mình một nén nhang”. Vợ Tuệ ngạc nhiên lắm, nhưng là người có học nên xử sự rất cao tay. “Ôi thì ra anh Tuệ nhà tôi còn có một cậu con trai”. Chồng tôi giỏi lắm, nuốt nghẹn vào trong ngực, vợ Tuệ dỗ dành: “Con ngoan vào thắp hương cho bố nhé, mắt con rất chi là giống bố!”.

Người đàn bà xứ Huế nom nhẫn nhịn và dịu dàng: “Là lỗi ở em cả thưa chị. Cùng trái tim phụ nữ, mong chị độ lượng cho mẹ con em có đường lui, ẩn dật. Em quen anh nhà trong một triển lãm 5 người; rồi quý mến nhau, chính em chủ động ngỏ lời xin anh Tuệ cho em một đứa con. Có thư tay làm chứng. Em không có nhu cầu gì khác, em không muốn phá vỡ hạnh phúc gia đình anh chị, càng không đòi hỏi trách nhiệm gì ở anh, dù vật chất lẫn tinh thần. Em chỉ xin anh nhà một đứa con; ở Huế em cô đơn, nhà em có nhà vườn, có đủ kinh tế nuôi con, chị hè. Mong chị tha lỗi cho em”.

Sau ngắt câu, người thiếu phụ xứ Huế kèm một tiếng “hè” rất ngọt, rất dịu. Vợ Tuệ nghe muốn thua cuộc luôn. Rồi vợ Tuệ nghĩ ngay: “Cô này hơn đứt mình ở sự dịu dàng, hèn nào Tuệ đã yêu cô ta”. Sau này vợ Tuệ còn tìm thấy những chiếc vé tàu Hà Nội đi Huế. Lý do đi Huế để vẽ. Chồng tôi giỏi lắm. Tuệ vẽ ra cô người tình này; giỏi lắm Tuệ, còn để lại đứa con trai này đây! Bao năm, ngỡ chỉ có mỗi cô tên Vy ở Hà Nội dám yêu, hy sinh, dành dụm cả đồng tiền chẵn cho đến đồng tiền lẻ đều cho Tuệ để mua toan, mua thuốc vẽ; hóa ra thế giới phức tạp của đàn ông, chưa bao giờ là đủ, hắn vẫn bỏ đi tìm kiếm vẻ đẹp dịu dàng khác của Huế thương, người thứ ba, đứng thứ tự sau vợ hắn.

Trước đó bệnh nhân Vy tin tưởng trên đời có tình yêu. Vì cuộc hôn nhân với chồng mình, chỉ theo sự sắp đặt của hai gia đình môn đăng hộ đối, hai ông thông gia cùng là bạn học, có địa vị xã hội, họ muốn hai con thỏa hiệp với cuộc nhân duyên cho dù không phải hai đứa yêu nhau. Khi về chung sống không có tình yêu, vợ hiểu rằng, chồng tốt lắm, anh chỉ cắm cúi nghiên cứu thôi; không biết một việc gì khác, kể cả âu yếm vợ cũng là xa xỉ. Còn Vy, nhà con một vốn được cưng chiều, thì rất cần sự vỗ về, đằm thắm, cần có phút chồng khen khi nấu ăn ngon. Dù vợ muốn nâng giấc tình yêu, nhưng chồng thì không. Đến lúc ngồi mẫu cho họa sĩ Tuệ vẽ, anh vừa ga lăng, vừa tâm lý, thì Vy rơi vào cái bẫy ngoại tình. Khổ nỗi mỗi lần vụng trộm hẹn hò, ở thời bao cấp ấy, nó làm cho trái tim Vy sợ hãi tăng lên gấp nhiều lần. Trong đó, có những đối thoại dối trá, không thể qua được mắt chồng. Nhưng chồng Vy lại thản nhiên như không hay biết, hằng năm không động chạm đến vợ. Dù vẫn sống bên nhau mà không gian như không gian ở trên nghĩa địa. Sợi dây níu kéo lúc đó là chăm sóc cậu con trai, mỗi ngày con khỏe, khôn lớn hơn mà thôi.

Vài năm sau, không ngờ cái chết của Tuệ đến sớm, đã để lộ ra người đàn bà xứ Huế với một cậu con trai; biết chuyện Tuệ có con với cô gái Huế, Vy mới hay mình không phải là người yêu duy nhất anh từng nói. Ai bảo đàn bà tin vào lời nói gió bay? Ai bảo Vy luận tội trong nước mắt khô, khi nhớ lại đủ thứ chuyện, cả khi Tuệ làm tình với nàng bên đống tranh và màu vẽ. Nghĩ lắm hóa dại. Vy lơ ngơ, mất trí. Từ một cô giáo dạy nhạc, đàn piano; sau cuộc tình, cô bỏ dạy nhạc, được chồng đưa đi chữa trị ở bệnh viện tâm thần. Có thời Vy chơi đàn, hát như “Vân dại” ở chỗ góc vườn bệnh viện kia, cũng may chưa xé quần áo, hoặc đem cho mọi thứ đồ dùng trong nhà vứt ra thùng rác.

Bác sĩ Côn cũng hỏi chồng Vy: “lúc vợ anh vụng dại, anh không có ý định ly hôn, chịu đựng nhiều năm, chắc cũng mệt chứ?”. Chồng Vy hút thuốc và thở ra rất lâu: “Mệt! Tôi chỉ cố giữ thể diện cho gia đình; nhà hai bên nội ngoại đều nền nếp, gia giáo; hơn nữa con trai tôi quá nhỏ, cháu cần hơi ấm của mẹ. Thực ra Vy ngoại tình, lỗi cũng có ở tôi... Tôi lơ là vai trò làm chồng, bi kịch ở đó!”.

Thật cảm động khi nghe đàn ông nhận lỗi về mình, vừa nể phục, vừa thương cảm. Mấy chục năm sau không gặp lại Vy? Nghe nói, đứa con trai của Vy làm ăn rất khá giả. Cháu gửi mẹ vào trại dưỡng lão, mẹ Vy hay được nêu tên trong cả lúc giao ban, vì đêm đêm bà không ngủ, hay kéo bàn, kéo ghế, khua khoắng dựng người khác dậy nói chuyện. Ôi, có kiếp người thật khó chết. Họ vẫn sống, vẫn làm khổ người thân không rõ đến niên hạn nào? Không tính trước được, giời ạ.

*

Còn một chuyện nữa: Chuyện bác sĩ Côn điều trị cho một nữ bác sĩ sản khoa, bà từng đón bao sinh linh chào đời; bà tốt bụng, rất hay giúp người trong những ca đẻ khó. Từng nuôi dưỡng bỏ tiền ra chăm con người dưng, cuối cùng gặp một loại mẹ trẻ vô ơn bỏ con đi và để lại bao vấn đề mà trong khoa giải quyết… do áp lực, do quá căng thẳng, nữ bác sĩ này đi đường đã va quệt xe, chấn thương sọ não; bệnh não nhớ nhớ quên quên rất nhiều. Ông Côn đã châm cứu và bấm huyệt cho bác sĩ này nhiều năm. Được biết nữ bác sĩ cũng từng ly hôn khi con chị học đại học năm cuối. Bà bập vào một phi công trẻ cũng là bác sĩ, sau khi con giai lấy vợ, chọn sống ở vùng biển Thái Bình; còn tay phi công trẻ đã rời bỏ bà, kết cục là do bà nông nổi, không biết chăm sóc tổ ấm gia đình. Bà về hưu với bệnh trầm cảm trong những ngày cuối năm, khi chết vẫn không gặp được mặt con. Bác sĩ Côn còn nhắc bà ấy đọc thơ Xuân Quỳnh “tình yêu mỏng mảnh như màu khói/ ai biết lòng anh có đổi thay?”.

Tôi viết lại câu chuyện của vị bác sĩ thiện nguyện; chỉ hy vọng ở mỗi người phụ nữ hãy lắng nhìn vào phía bên trong mình, biết trân quý nâng giấc tổ ấm của gia đình. Nếu không, ngay cả tuổi trẻ, ngay cả tình yêu chồng vợ, mọi thứ giá trị của con người nếu không nuôi dưỡng chăm sóc, nó vẫn cứ rời bỏ ta mà đi, dù lá vàng mùa thu mỗi năm vẫn trở lại, xao xuyến và day dứt.

Có thể bạn quan tâm

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.