Những cống hiến thầm lặng

Vượt qua khoảng cách địa lý xa xôi, nhiều chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài ngày đêm bắc những nhịp cầu tri thức đưa tiến bộ khoa học công nghệ thế giới về Việt Nam. Từ dải đất chữ S, họ tự tin bước ra thế giới và góp phần vào những nỗ lực định danh Việt Nam trên bản đồ tăng trưởng toàn cầu.

TS Phan Quang Anh (thứ ba, từ phải sang) tham dự Lễ ra mắt VietNuc tại Đại sứ quán Việt Nam ở Pháp, năm 2025. (Ảnh Minh Duy)
TS Phan Quang Anh (thứ ba, từ phải sang) tham dự Lễ ra mắt VietNuc tại Đại sứ quán Việt Nam ở Pháp, năm 2025. (Ảnh Minh Duy)

Từ những cuộc họp xuyên màn đêm

Ở nước Pháp xa xôi, khi Thủ đô Paris dần chìm vào giấc ngủ, TS Phan Quang Anh cùng các chuyên gia điện hạt nhân vẫn miệt mài chuẩn bị nội dung cho các dự án triển khai với đối tác Việt Nam. “Những cuộc họp kéo dài quá nửa đêm diễn ra liên tục bất kể trong tuần hay cuối tuần. Điều này rất hiếm thấy ở quãng thời gian trước”, ông Quang Anh chia sẻ.

Việt Nam đang trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện hành lang pháp lý và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc phát triển điện hạt nhân trong tương lai. Đây là giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cần tới sự đóng góp của nhiều chuyên gia, bao gồm cộng đồng trí thức Việt Nam đang làm việc ở Pháp. Mọi người không quản ngại hy sinh thời gian cá nhân để góp sức cho Tổ quốc.

Giống như phần lớn những người con xa quê khác, ông Quang Anh vẫn luôn theo dõi tình hình biến động của đất nước về kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, đặc biệt ở ngành năng lượng. Đất nước đang trong giai đoạn chuyển mình. Vì thế, chủ đề xây dựng, phát triển chính sách, cũng như cơ sở hạ tầng năng lượng vẫn luôn là đề tài nóng và đáng được quan tâm.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội, ông Quang Anh đã quyết định sang Pháp học tập và hoàn thành luận án tiến sĩ ngành mô phỏng điện từ trường. Nhận thấy xu hướng và triển vọng phát triển của điện hạt nhân trong tương lai, từ năm 2023 tới nay, ông chính thức làm việc cho Edvance - công ty thuộc Tập đoàn Điện lực Pháp (EDF), chuyên về thiết kế phần đảo hạt nhân (Nuclear Island) cho các nhà máy điện hạt nhân mới tại Pháp. Thực tế, nhiều đồng nghiệp tại EDF rất quan tâm đến câu chuyện phát triển ngành năng lượng ở Việt Nam. Bởi họ hoàn toàn có thể trở thành đối tác tiềm năng trong tương lai.

Kiến tạo văn hóa an toàn

Với cá nhân ông Quang Anh, quá trình giới thiệu và lan tỏa an toàn hạt nhân và văn hóa an toàn hạt nhân chính là những nỗ lực đóng góp bước đầu của các chuyên gia Hội Kỹ thuật điện và năng lượng (AEEE) và Mạng lưới chuyên gia năng lượng hạt nhân người Việt Nam ở nước ngoài (VietNuc) vào truyền thông khoa học. Từ đây, người Việt nói chung và các lao động trong lĩnh vực năng lượng nói riêng, sẽ hiểu rõ hơn và có cái nhìn đúng đắn về sản xuất điện nguyên tử.

“Sản xuất điện từ năng lượng hạt nhân có những điểm đặc thù so với các loại sản xuất điện khác, đặc biệt là vấn đề an toàn hạt nhân (liên quan chủ yếu đến kỹ thuật, pháp lý) và văn hóa an toàn hạt nhân (liên quan đến con người, tổ chức). Văn hóa an toàn là điều đang rất thiếu trong sản xuất công nghiệp ở Việt Nam nói chung. Trong khi đó, ở Pháp, an toàn và văn hóa an toàn trong lĩnh vực sản xuất điện nguyên tử phải là ưu tiên hàng đầu”, TS Quang Anh nhấn mạnh.

Không chỉ lan tỏa văn hóa an toàn, AEEE và VietNuc còn nỗ lực xây dựng cầu nối giữa các chuyên gia nước ngoài (ở nhiều ngành hẹp khác nhau thuộc lĩnh vực điện hạt nhân) với các đơn vị công nghiệp trong nước. Hiện tại, VietNuc quy tụ các thành viên đến từ nhiều nước khác nhau ở châu Âu và bắt đầu có chuyên gia quay về nước làm việc.

Để phục vụ bài toán phát triển điện hạt nhân, “việc xây dựng cầu nối giữa các trường đại học với các đơn vị giáo dục đào tạo ở nước ngoài cũng cần nhanh chóng được thúc đẩy. Chúng ta cần hỗ trợ quá trình hợp tác tiếp nhận sinh viên các chương trình thực tập, thạc sĩ hoặc nghiên cứu sinh, đồng thời có thể đề xuất các khóa huấn luyện cho các đơn vị tại Việt Nam, tham gia vào thiết kế chương trình giảng dạy của ngành năng lượng nguyên tử cho các trường đại học. Không những vậy, chúng tôi cũng từng bước giới thiệu công nghệ, chia sẻ các kinh nghiệm thực hiện và quản lý thực tế từ các dự án điện hạt nhân của các nước phát triển với các đơn vị ở Việt Nam”, ông Quang Anh bổ sung thêm.

“Trách nhiệm và cống hiến”

Theo TS Phan Quang Anh, đó là hai từ chính xác nhất có thể lột tả sự đóng góp của các chuyên gia AEEE và VietNuc tại Pháp. Đây là các hội phi lợi nhuận. Các thành viên tham gia hoàn toàn với tinh thần tự nguyện, không mưu cầu cá nhân. Các sản phẩm đóng góp luôn được thực hiện với trách nhiệm cao nhất. Lòng tự hào dân tộc, khát vọng đất nước tiến lên luôn là động lực lớn để các chuyên gia như ông Quang Anh dành thời gian, công sức đóng góp với nhiều cách thức. Đó cũng là lựa chọn theo tinh thần sống trẻ, nhớ về cội nguồn và luôn tự vấn, ta có thể làm được gì cho Tổ quốc hôm nay. Bởi, dù có ở đâu, làm gì, với họ, Việt Nam vẫn là quê hương duy nhất.

Hiện tại, sự phối hợp giữa các chuyên gia trong nước và quốc tế đang ngày một tốt hơn. Song, những nỗ lực kết nối ban đầu vẫn chủ yếu dựa vào sự tự nguyện và chủ động từ phía các cá nhân hay mạng lưới chuyên gia ở nước ngoài. Việt Nam cần chủ động hơn trong quá trình kiến tạo cầu nối. Hiệu quả kết nối sẽ tốt hơn, nếu có những đầu mối, những kênh thông tin, liên lạc cụ thể trong các lĩnh vực khác nhau, cho phép đội ngũ trí thức Việt trên khắp thế giới có thể liên hệ trực tiếp để tham gia đóng góp.

Rõ ràng, việc hình thành những tiếp nhận ý kiến tư vấn sẽ giúp đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài cảm thấy công sức của mình được trân trọng và sử dụng hiệu quả hơn. Khi những nhịp cầu công nghệ được xây dựng trên sự tin tưởng và chủ động từ cả hai phía, con đường chinh phục tương lai năng lượng hạt nhân của Việt Nam sẽ ngắn lại đáng kể ■

Tiến sĩ Phan Quang Anh là thành viên nòng cốt của AEEE và cũng là Phụ trách điều phối chuyên môn VietNuc. Ông từng tham gia phản biện dự thảo Nghị định Chính phủ về nhà máy điện hạt nhân và trao đổi chuyên môn với Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.