Nhớ Trường Sa

Đời làm báo của tôi, mỗi lần nhớ tới chuyến đi đầu tiên ra quần đảo Trường Sa lại không khỏi bồi hồi. Trước khi tới Trường Sa lần đầu, tôi có gặp anh Đào Văn Nhuận, khi đó là Lữ trưởng một lữ đoàn có tàu săn ngầm.

Nhà báo Vũ Đức Tân. Ảnh: VŨ DŨNG
Nhà báo Vũ Đức Tân. Ảnh: VŨ DŨNG

Nghe anh vừa nhắc tới chuyến đi huấn luyện từ Cù Lao Chàm tới quần đảo Trường Sa, vừa nhắc tới gia đình, lòng tôi lại nao nao, có sự đồng cảm giữa những người lính.

1. Trước khi ra Trường Sa, chúng tôi có hơn hai tuần ở quân cảng Cam Ranh để chờ có chuyến tàu ra đảo. Tại đó, tôi gặp anh Nhuận. Anh cho tôi xem một chồng thư của đứa con gái học Trường đại học Sư phạm I Hà Nội. Thời ấy, liên lạc đều phải dựa vào những lá thư. Một lá thư viết: “Nhà mình nước ngập đến tận sân. Nhà bác Viễn ngập đến tận giát giường. Mẹ đi làm thì ngập đến ngực, có người đến cổ, cho nên đội túi mà đi vào nhà máy, thay quần áo mà làm. Hai ngày sau hết ngập, nước để lại một lớp phù sa kinh khủng.

Hôm nọ có cơn mưa rất to, đúng lúc mẹ làm đêm và chuẩn bị đi ngủ thì chuông réo ầm lên. Mẹ mắng rầm lên và bắt rút cả cụm điện ra, thế là nhà có điện mà tối như hũ nút. Thỉnh thoảng con lại thử cắm vào xem hết kêu chưa, nó lại kêu có phần to hơn. Mãi sau con ra ngoài, cầm cái phích cắm chuông vẩy hết nước, lau bông thật sạch chuông mới không kêu nữa”.

Những lá thư đều kể chuyện nhà như thế. Đằng sau mỗi người lính là hậu phương, là mối lo toan không dứt nhưng cũng là nguồn động viên to lớn khiến họ vững vàng trên mặt trận. Anh Nhuận nói với tôi: “Cậu cứ đến sống Trường Sa thì biết, lính ở đấy giống như tớ, vất vả lắm nhưng cũng nhớ nhà lắm. Tâm trạng lúc nào cũng hướng tới đất liền. Nhưng nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”.

Mang theo lời nhắn nhủ ấy của anh, tôi lên đường. Sau vài ngày trên biển, trước mặt tôi là vùng biển mênh mông của những đảo san hô ngầm. Những đảo lớn và rất lớn nằm nhờ nhờ trên mặt sóng. Chuyến đi của chúng tôi qua bảy - tám đảo lớn nhỏ, một hành trình rất dài.

Nơi đây chỉ có hai mùa: mùa khô từ tháng 2 tới tháng 8; mùa mưa bão từ tháng 8 tới tháng 1 năm sau. Quần đảo nằm ngay trên đường di chuyển của các cơn bão vào Việt Nam nên chuyến đi gặp sóng cấp 7, cấp 8 cũng là chuyện bình thường.

Mỗi hòn đảo đều có đặc thù riêng. Như đảo Song Tử Tây, chung quanh có diềm san hô bao bọc lấy đảo. Phía trong bãi san hô thì yên bình, chẳng khác mấy công viên nước hiện đại bây giờ. Nhưng ngoài diềm san hô thì độ sâu hun hút, cắm xuống đáy biển. Chừng đây là một núi lửa đã tắt, trải qua cả triệu năm, giờ thành bãi san hô cho các đàn chim bay đến.

Đảo Nam Yết có những bãi đá san hô nhô ra khỏi mặt nước, hình dạng tùy theo doi cát. Nhiều đảo cũng có cây, nhưng riêng Sinh Tồn trong ký ức của tôi toàn cát trắng. Hay như đảo Thuyền Chài, lúc tôi lên chỉ có mấy cái nhà cao chân đơn sơ.

Thời điểm chúng tôi đến, vích (rùa biển) còn khá nhiều, có con nặng hàng trăm ký. Về mùa xuân, đàn rùa về sống trong các vườn san hô quanh đảo, ban đêm chúng bò lên bờ cát đẻ trứng.

Thời đó, trên đảo ít được tiếp tế thường xuyên nhưng đồ ăn vẫn khá đa dạng. Ngoài đồ hộp, các đảo còn tổ chức trồng rau và chăn nuôi khi có thể. Năm đầu tiên tôi đến, đảo Trường Sa nuôi được 70 con lợn, thu được hai vạn quả trứng chim.

Nguồn hàng chở đến các đảo do các tàu mang đến. Không phải lúc nào cũng tuyệt đối an toàn. Tàu 501 tải trọng 4.000 tấn, vậy mà ra đảo Sơn Ca có lúc bị đứt neo. Tàu 604 bị con cá lớn lao vào làm vỡ mạn tàu. Tàu 504 chở hàng bị mắc cạn. Đây mới chỉ là một trong nhiều chuyện gian nan.

Nước ngọt ở đảo là một vấn đề khá nan giải. Lên đảo, nhìn cánh lính chuyển nước ngọt từ tàu vào đảo ở Trường Sa và Nam Yết thấy khá vất vả. Anh em phải bơm nước ngọt vào xuồng cao su, sau đó đưa xuồng vượt qua những cơn sóng dữ vào bờ cách đó khoảng chừng một ki-lô-mét. Thế mới thấy sự bền gan của người ở đảo.

Chìa khóa bể nước được giao cho chỉ huy đảo, đó là tài sản quý hơn vàng. Nước ngọt dùng để nấu ăn là chính. Ở Nam Yết, mỗi khẩu đội có năm sáu cái phi để hứng nước mưa. Bữa nào mưa nhiều, anh em nộp lên Ban chỉ huy để dự trữ. Nhưng mùa khô, thiếu vẫn hoàn thiếu. Có đảo quy định hết mưa là các két nước khóa chặt. Khi trên đảo hết nước mới phát theo tiêu chuẩn mỗi người một ca nước.

Những cơn mưa ở biển như những món quà thiên nhiên trao tặng cho người lính. Lính tắm bằng nước biển, sau đó sử dụng nước từ giếng lọc nước biển.

Thiếu nước nên quần áo của lính cũng thiếu. Bởi nước mặn làm hỏng hết quần áo. Có người thiếu cả quần đùi lẫn khăn mặt. Nguyên do cũng đơn giản, như lúc bơi theo xuồng lên đảo, quần áo có khi bị sóng đánh rách hết. Khi chuyển hàng vào bờ, có lúc xuồng cao su gần đến bờ thì bị sóng lật úp.

Anh Phán, một cán bộ đảo Nam Yết bị một cú sốc như vậy khi vào đảo Song Tử Tây. Lúc đó, anh chỉ kịp ôm theo ba-lô tài liệu, trôi theo sóng. May mắn thay, một chiếc xuồng cao su do chiến sĩ Văn đã đuổi kịp và kéo anh vào bờ.

51.jpg
Bài báo tháng 5/1981 về Trường Sa của nhà báo Vũ Đức Tân.

2. Lúc tôi lên tới đảo Trường Sa, đảo vẫn đang phải chỉnh trang, tôn tạo. Việc tưởng nhỏ mà cũng bao nhiêu nhọc nhằn. Tôi vẫn nhớ đồng chí Cao Ánh Đăng, Lữ trưởng Lữ đoàn 146 nói với tôi: “Anh em lính vác đá có khi không có đủ bao tay, có lúc phải quấn vải vào tay mà bốc san hô”.

Vết thương do đá san hô cứa vào tay chân, lại thêm muối mặn, thường lâu lành, ai nấy đều nhăn mặt vì xót. Nhưng mọi người đều cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Một chiến sĩ của E83 - đơn vị phối thuộc của Quân chủng Hải quân khi ấy tâm sự: “Vác đá ở đây không dễ như ở trong đất liền. Tôn tạo xong chỉ sau vài năm đã phải làm lại, càng ngày càng phải cải tiến hơn”.

Ở đảo Sinh Tồn năm đó, vừa làm xong một con đường để di chuyển thì một trận bão kinh hoàng đã ném những con sóng chùm qua đảo. Cát lấp kín con đường vừa đắp. Những người lính mất ba ngày để vét cát. Nhưng cứ sáng vét cát thì buổi tối cát lại lấp qua. Vậy nhưng họ vẫn bền bỉ như vậy, ngày qua ngày, tới lúc trời yên biển lặng. Từ bàn tay người lính, đảo mỗi lúc một khang trang hơn.

Trường Sa những năm tháng đất nước vừa trải qua cuộc chiến còn nhiều khó khăn. Đất liền vất vả, mà người ngoài đảo cũng vất vả. Những người lính phải dựng lều bạt ở tạm. Tới mỗi hòn đảo, điều tôi nhớ là từ những vọng gác cao vút, lá cờ Tổ quốc tung bay lồng lộng. Từ những vọng gác đơn sơ ấy, chúng ta đã bền bỉ giữ gìn được một vùng biển luôn sôi động, đầy sóng gió.

Chính từ những kinh nghiệm ban đầu, sau này Trường Sa càng lớn mạnh hơn. Cách dùng nước, chăm bón cây cối, xây dựng công trình, chăm sóc y tế, huấn luyện quân sự ngày nay đã khác rất nhiều.

Những người lính Lữ đoàn 146 tôi gặp ngày ấy phần lớn là lính trận. Có người đã trải qua chín mười năm ở vùng rừng núi, ra Trường Sa còn cầm theo cánh võng của Trường Sơn. Tinh thần cảnh giác cũng cao. Họ có kinh nghiệm để nhớ từng mô đá, từng chướng ngại, tăng thêm một mô đá là dường như có chuyện. Gác ban đêm họ bảo nhau xem trăng sao. Họ dạy nhau phát hiện ra có vật nghi ngờ thì nằm xuống mép nước để quan sát thế nào.

Lúc ấy không chỉ là canh gác đảo, mà còn là sẵn sàng để không bị bất ngờ trong mọi tình huống. Biết bao những sự kiện đã xảy ra trên biển. Có những chuyến đối phương giả dạng dân đánh cá xâm nhập đảo. Có những tai nạn xảy ra trên biển. Có những đoàn tàu tránh bão đậu ở Trường Sa. Nhưng những sự cố ấy chỉ làm giàu thêm kinh nghiệm của những người bám biển.

Những người lính đảo khi đó đều kể, buổi chiều khi hoàng hôn buông xuống là lúc họ nhớ nhà nhất. Ngày ấy không có mạng thông tin như bây giờ. Khi có tàu ra là toàn đảo đứng chờ ở gần mép nước, lúc đưa tàu đi cũng vậy. Chúng tôi lên đảo là đã thấy một hàng ngang lính đứng chờ sẵn như chờ người thân rồi.

Thư nhà cũng khó khăn. Có lá thư phải sáu, bảy tháng sau mới tới tay người nhận. Thư của một người mà cả tiểu đội đều thuộc. Chứng kiến những chuyện ấy ở Trường Sa, tôi lại nhớ tới tâm trạng của anh Đào Văn Nhuận khi nói về gia đình mình. Ở nơi đảo xa, nỗi nhớ đất liền càng tăng lên gấp bội. Có một đoàn văn công ra là đủ chuyện kể cả năm. Mỗi người nhớ lại một đoạn rồi chắp nối thành chuyện, tua đi tua lại trong trí nhớ, từng câu nói của mỗi diễn viên, nội dung của từng hoạt cảnh.

Trường Sa bây giờ nhộn nhịp, ấm áp trong mối quan tâm của đất liền. Mỗi năm đều có những chuyến tàu đi, những chuyến tàu đến mang theo bao nhiêu tình cảm của quân và dân cả nước.

Quần đảo Trường Sa trở thành tấm lá chắn trên Biển Đông, che chở cho cả nghìn cây số đường biển, cả một vùng kinh tế biển giàu có tài nguyên và triển vọng ở ngay gần con đường thông thương quốc tế. Mỗi hòn đảo đều như một chiến hạm, dù sóng to, gió lớn đến đâu cũng vượt qua và vững vàng trên biển.

Có được tấm lá chắn trên biển hôm nay là cả một quá trình gian lao, đầy thử thách. Nó được xây dựng từng ngày. Có một sự kết nối chặt chẽ giữa các đảo và đất liền, một sự bảo vệ vòng ngoài để bảo đảm cho sự bình yên trên mặt sóng.

Nhà báo Vũ Đức Tân, sinh năm 1954, nguyên Trưởng ban Lý luận phê bình của Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam. Ông tốt nghiệp khoa Báo chí, ĐH Tổng hợp Lomonosov (MGU), Liên Xô. Tháng 5/1981, ông nhận nhiệm vụ công tác tại quần đảo Trường Sa với cương vị là phóng viên Phòng Tòa soạn báo Quân đội Nhân dân. Năm 1983, ông chuyển sang Báo ảnh Việt Nam (TTXVN).

Có thể bạn quan tâm

Ông Phạm Hữu Phụ và Thượng úy Lê Sỹ Vũ ở thôn Đoàn Kết.

Người ở nông trường, người ra biên giới vùng biên Tây Nam (kỳ 1)

Tuyến biên giới phía Tây Nam tiếp giáp giữa Việt Nam và Campuchia giữ vị trí chiến lược đặc biệt trọng yếu đối với quốc phòng, an ninh quốc gia. Thế nhưng do yếu tố lịch sử cùng điều kiện địa hình phức tạp, nhiều đoạn biên giới dài trong nhiều năm gần như vắng bóng người dân sinh sống ổn định. Đầu tháng 4 năm 2019, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 chính thức khởi xướng và triển khai Đề án Xây dựng điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới, đồn, trạm biên phòng (thường được biết đến với tên gọi Đề án 811). Đó là bước ngoặt chiến lược đưa dân ra lập ấp, đưa các dải biên cương thành thế trận biên phòng toàn dân vững chắc. Nhưng những câu chuyện vùng biên, không chỉ nằm ở một đề án.

Anh Lê Quang Đảng gắn bó với thư pháp Việt tròn 20 năm.

Gieo duyên qua nét thư pháp Việt

Để lưu giữ nét đẹp của thư pháp Việt, nhà thư pháp Lê Quang Đảng (36 tuổi) cho rằng, viết một con chữ dựa trên cái tâm muốn làm chứ không vì tấm huy hiệu hay lời khen, mọi công đoạn đều trở nên nhẹ nhàng, tự nhiên như hơi thở. Viết thư pháp Việt là cách giúp anh Đảng kể lại từng câu chuyện sâu thẳm bên trong thế giới nội tâm.

Khung cảnh Ngải Thầu nhìn từ trên cao.

Hoa nở trên mũi đá Ma Cha Va

Tháng chín mùa thu, đang mùa lúa chín, Y Tý đẹp như miền cổ tích. Từ bản nhỏ Chi Chu Lìn, già làng Sùng A Lử, ngước đôi mắt xa xăm về phía vách đá Ngải Thầu. Vách đá nhô ra như chiếc mỏ con diều hâu khổng lồ, xòe đôi cánh lớn trùm lấy ngọn núi Ma Cha Va vòi vọi trên nền trời xanh thăm thẳm.

Con thuyền đưa chúng tôi ngược dòng Ô Lâu lên thượng nguồn.

Ô Lâu, dòng sông của những lời hẹn

Có lần, trong một buổi dừng chân bên đình Lương Điền, phía sau lũy tre làng bỗng vọng ra câu hát ru: “Trăm năm đành lỗi hẹn hò…”. Câu hát cũ đưa chúng tôi lần theo một dòng sông đã đi qua bao miền ký ức của đất Quảng Trị. Nhưng trước khi gặp cây đa, bến cộ (bến sông Ô Lâu), những cuộc tình và những thân phận đời người, chúng tôi ngược lên miền tây Hải Lăng, tìm về nơi những nhánh nước đầu tiên góp thành dòng Ô Lâu. Ở đó, dưới những cánh rừng còn mang dấu tích chiến tranh, có những người đã nằm lại và có những người vẫn miệt mài đi tìm nhau sau hơn nửa thế kỷ.

Chị Trương Thị Phượng và con gái chuẩn bị quần áo đem tặng.

Món quà nhỏ nối dài lòng tốt

Mỗi lần nấu cơm cho gia đình, chị Trương Thị Phượng lại chuẩn bị thêm một, hai suất. Hôm nay, trong những chiếc hộp được xếp ngay ngắn là cơm trắng, khoai tây xào, gà xào và canh nóng. Chị chụp lại phần cơm, đăng lên nhóm “Cho tặng đồ miễn phí tại Hà Nội”, rồi chờ người cần đến nhận.

Trở lại Kim Vân

Trở lại Kim Vân

Gần một năm kể từ trận lũ lịch sử tháng 10/2025, ở thôn Kim Vân (xã Văn Lang, tỉnh Thái Nguyên), ám ảnh về đợt thiên tai khủng khiếp vẫn còn đó. Nhưng trong sự thăng trầm của mảnh đất lòng chảo này, một hành trình hồi sinh đang diễn ra trên đồi Lũng Cậu, nơi đang khẩn trương thi công dự án khu tái định cư.

Du khách tham gia du lịch trải nghiệm tại khu sinh thái của vợ chồng Alex- Mai Dung.

Đôi vợ chồng Việt-Đức và thương hiệu Chocolate tương lai

Anh là Axel Krauss đến từ thành phố Quedlinburg ở miền bắc nước Đức. Chị là Lê Mai Dung, sinh ra tại cao nguyên Đà Lạt (Lâm Đồng). Họ đã chọn miền núi rừng xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) để tạo dựng một câu chuyện đẹp. Hòa hợp với rừng và cư dân rừng, đôi vợ chồng Việt-Đức ấy đã trở thành láng giềng, bạn bè và đối tác của đồng bào Cơ Ho, M'Nông địa phương từ nhiều năm nay…

Lê Minh Vũ (bên phải) tham gia công tác trọng tài Giải Yoga tỉnh Khánh Hòa 2026.

Vượt giới hạn cùng Yoga

Với kiện tướng Yoga cấp quốc gia Lê Minh Vũ (26 tuổi, trú phường Phú Xuân, thành phố Huế), Yoga là hành trình lắng nghe, thấu hiểu từng đổi thay của bản thân. Phía sau những kết quả anh Vũ đạt được là sự kiên trì trong luyện tập, sẵn sàng chinh phục từng cấp độ mới. Các tư thế Yoga uyển chuyển, mềm mại tạo cho Vũ một hướng đi khác biệt, chứa đựng sự đam mê đầy nghiêm túc.

Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Ảnh: QĐND

Phía sau đầu sóng Trường Sa

Bán đảo Cam Ranh nắng gió có một khu đô thị đặc biệt mang tên Khu đô thị Căn cứ quân sự Cam Ranh (Khánh Hòa). Sau những ô cửa bình yên nơi đây là mái ấm của các gia đình quân nhân, trong đó có những người vợ đang ngày ngày thay chồng chăm lo tổ ấm, khi các anh làm nhiệm vụ nơi đầu sóng Trường Sa.

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004). Ảnh tư liệu của Kiều Mai Sơn

Bắc thành khởi nghĩa

Nhà báo Lưu Động (1920 - 2004) nguyên Trưởng ban Nông nghiệp Báo Nhân Dân, tham gia chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Bắc Ninh trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Cách mạng thành công, ông trở thành Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh. Một năm sau, trên báo Cứu quốc (Đặc san Cách mạng Tháng Tám phát hành ngày 19/8/1946), nhà báo Lưu Động đã ôn lại qua bút ký “Bắc thành khởi nghĩa”. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, chúng tôi trích đăng bài bút ký này. Tư liệu do cộng tác viên Kiều Mai Sơn cung cấp.

Bản Hà Lẹc nhìn từ trên cao.

Đổi thay khi nhà sàn đón... người lạ

Một buổi chiều đầu thu, mây từ đỉnh Trường Sơn đổ xuống bản Rum Ho (Kim Ngân, Quảng Trị), phủ mờ những mái nhà sàn nép mình bên triền núi. Tiếng suối len qua từng phiến đá, tiếng gió xào xạc trong tán cây và mùi khói bếp quyện vào hương rừng. Trong căn nhà sàn của mình, chị Hồ Thị Son lặng lẽ trải từng tấm đệm mới.

Tiết mục “Thiên thần đến từ Thiên hà” giành Vương miện Bạc tại Liên hoan quốc tế Công chúa Xiếc 2026 diễn ra từ ngày 28/5 đến 31/5/2026 tại thành phố Saratov, Liên bang Nga.

Những thiên thần của thánh đường xiếc

Chỉ còn chưa đầy 5 tiếng nữa, tiết mục "Đu Ô" sẽ chính thức công diễn lần đầu tiên. Trong phòng tập của Liên đoàn Xiếc Việt Nam, tiếng nhạc vẫn đều đều vang lên, xen lẫn những nhịp hô ngắn của huấn luyện viên và âm thanh của đạo cụ va chạm sau mỗi lần tiếp đất. Trên tấm thảm tập đã sờn màu, nữ nghệ sĩ Trần Thanh Hòa và NSƯT Thu Hương (Liên đoàn Xiếc Việt Nam) lặp đi lặp lại từng động tác. Một cú xoay chưa đủ đẹp lại làm lại từ đầu. Một nhịp bắt tay chưa thật khớp cũng phải thực hiện thêm nhiều lần.

Cắm cờ báo điểm nghi có vật nổ trên điểm cao 1.100 (xã Thanh Thủy, Tuyên Quang).

Trọn lời hẹn, vẹn tấm lòng tri ân (kỳ 1)

Hơn 40 năm sau những ngày khốc liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Tuyên Quang), màu xanh đã phủ lên những điểm cao từng bị pháo đạn nghiền nát, nhưng dưới những tầng đất đá, trong hang sâu và khe núi, nhiều người lính vẫn chưa thể trở về. Từ ký ức đau đáu của các cựu binh, những người lính công binh thận trọng dò mìn mở lối cho đội quy tập khoan từng phiến đá, lần tìm từng dấu tích.

Một góc thôn Tà Han nằm phía dưới dự án cầu Tà Han trên đường mở mới từ Nam Cường sang tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: TÙNG VÂN

Nắng mới ở Tà Han

Giữa đại ngàn, nơi mây mù quanh năm, trên những đỉnh núi đá tai mèo sắc nhọn của xã Nam Cường (Thái Nguyên), có một bản làng đang lặng lẽ viết nên câu chuyện “tái sinh” của chính mình. Đó là Tà Han. Gạt đi những ký ức buồn về những trận lũ dưới màu trời xám xịt, Tà Han đang chuyển mình, một cuộc sống mới đã bắt đầu với bao đổi thay và hy vọng.

Nguyện cầu bình yên nơi Trường Sa. Ảnh: NGUYỄN TRƯỜNG

Theo tiếng chuông ra Trường Sa (kỳ 1)

Giữa mênh mông sóng nước Trường Sa, tiếng chuông chùa mỗi buổi sớm, mỗi chiều hòa cùng tiếng Quốc ca và nhịp sống bình yên của quân, dân trên đảo tạo nên một không gian văn hóa rất riêng. Từ những mái chùa hướng về đất mẹ, chúng tôi cảm nhận sâu sắc rằng, chủ quyền không chỉ được gìn giữ bằng ý chí và sức mạnh, mà còn được bồi đắp bằng truyền thống văn hóa, đời sống tâm linh và niềm tin bền bỉ của con người Việt Nam giữa trùng khơi.

Nụ cười của người Vân Kiều ở Cu Vơ trước vụ mùa bội thu.

Gieo màu xanh giữa miền gió chướng

Gần 30 năm trước, một người đàn ông Vân Kiều lặng lẽ ngược lên đỉnh Cu Vơ (xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị), vùng đất chỉ có gió chướng, lau lách và những quả đồi khô cằn. Từ những bước chân tiên phong ấy, một bản làng đã thành hình dưới những cánh rừng xanh.

Trạm radar 67 nhìn từ xa.

Một ngày cùng những con mắt canh trời gió

Giữa lòng bán đảo Cam Ranh (Khánh Hoà), trận địa của Trạm radar 67 (Trung đoàn 292, Sư đoàn 377, Quân chủng Phòng không - Không quân) được xem là những đôi mắt trên đỉnh đồi, canh giữ biển đảo tiền tiêu.

Đoàn văn nghệ sĩ TP Hồ Chí Minh chụp hình ở Cột mốc 240.

Biên cương một dải mùa nào cũng đẹp

Chúng tôi nói với nhau về một vùng biên Tây Nam xa thành phố. Câu chuyện nối liền những miền thời gian và không gian để khi ánh bình minh vừa ló rạng thì xe chúng tôi cũng vừa hay chạm đất Cửu Long.

Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô dưới chân dãy Trường Sơn (Quảng Trị) giữ gìn nghề đan lát.

Chiếc a chói giữa rừng Trường Sơn

Dưới mái hiên nhà sàn ở xã La Lay (Quảng Trị), tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn giữa buổi sớm. Nghệ nhân Hồ Văn Thành ngồi bên bó mây vừa lấy từ rừng về. Ông tỉ mẩn đường dao chuốt từng sợi nan tre. Ở miền tây Quảng Trị, hình ảnh ấy không hiếm gặp...