Biên cương vẫy gọi
Sáng 29 Tết, tôi tìm đến bờ bắc sông Thạch Hãn, thắp hương ở đài tưởng niệm trung đội Mai Quốc Ca, tỉnh Quảng Trị. Tôi muốn bắt đầu hành trình của mình bằng sự tri ân. Dòng sông Thạch Hãn vẫn trôi, hiền hòa và lặng lẽ, như thể nó chưa từng chứng kiến trận chiến khốc liệt “một đánh một trăm” của trung đội anh hùng. 19 cái tên trên bia đá, 19 trái tim đỏ rực trong khung sắt - họ nằm lại đó khi tuổi đời còn phơi phới thanh xuân, để đổi lấy nhịp đập của những chuyến tàu Thống Nhất Bắc - Nam lăn bánh đều đặn qua cầu. Tôi ghé hàng tạp hóa cạnh đài tưởng niệm mua ít đồ, cô bán hàng thân thiện hỏi thăm hành trình của tôi rồi chép miệng, giọng Quảng Trị đặc quánh sự bao dung: “Chiến tranh qua lâu rồi, năm nào người ta cũng đến đây thả đèn và hoa trên sông, đông nhất là dịp 27/7. Nhưng mà cầu siêu chung thế thôi, chứ nằm lẫn vào nhau hết rồi, biết ai với ai đâu con….”. Câu nói ấy như dao cứa vào lòng tôi. Sự hy sinh của các anh đã hòa tan vào đất đá, vào phù sa, thành một phần xương thịt của Tổ quốc này.
Rời cầu Thạch Hãn, tôi lái xe hướng về biên giới, theo tuyến đường Trường Sơn Đông. Qua cầu Đakrông, lòng tôi cứ vấn vương câu hát “Tây Nguyên ơi, Đăkrông ơi”. Hóa ra, thực tế và thơ ca đôi khi có những khoảng trống diệu kỳ. Sông Đăkrông trong ca khúc “Sông Đăkrông mùa xuân về” của cố nhạc sĩ Tố Hải thật ra chỉ là con sông ước lệ cho nhiều dòng sông ở Tây Nguyên khi nhạc sĩ nghe tin tiếng súng của quân ta mở màn chiến dịch Tây Nguyên. Còn con sông Đakrông trong thực tế không có nhà rông rực lửa, không có tiếng chiêng rộn ràng, chỉ có bản làng của đồng bào Pa Cô, Vân Kiều lặng lẽ bên những rẫy nương sạt lở.
Năm nay, 29 Tết cũng là 30 Tết. Chiều cuối năm, nghỉ chân bên bát mì tôm nóng hổi ở bản Đakrông, tôi nghe anh chủ quán Hồ Văn Nam kể về đứa con gái lấy chồng Hà Nội không về. Nhìn nụ cười hiền hậu của anh khi nói về khoản hỗ trợ 1 triệu đồng ăn Tết của Nhà nước, tôi thấy sống mũi mình cay cay. Nghĩ tới mâm cỗ tất niên linh đình mỗi năm, tôi bật cười một mình. Hạnh phúc nơi đây giản đơn đến mức khiến người ta phải tự soi rọi lại sự phồn hoa của phố thị.
Những chặng đường biên giới
Đồn biên phòng A Vao (Quảng Trị) đón tôi bằng nắng đẹp. Cán bộ chiến sĩ ở đồn đùa vui rằng, tôi mang nắng ấm tới biên cương bởi mọi năm, mưa dầm dề xuyên Tết. Tôi chỉ thật sự tin các anh không đùa, khi bắt đầu từ ngày mồng 2, mưa không ngớt.
Đồn trưởng Đồn Biên phòng A Vao là Trung tá Lương Thế Vĩnh, sinh năm 1981 mà khuôn mặt đăm chiêu già trước tuổi. Thế nhưng, đằng sau vẻ nghiêm nghị ấy lại là một người cha dịu dàng. Cậu con trai lớp 4 của anh, từ năm 3 tuổi đã cùng bố đón Tết ở khắp các đơn vị. Mùng 3 Tết, khi đổi ca trực, hai bố con sẽ cùng về. Ước mơ của Lương Thanh Dũng, tên cậu bé, là trở thành bộ đội biên phòng rồi được công tác ở chính đồn A Vao này. “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt” - câu khẩu hiệu ấy nằm trong ánh mắt quyết tâm của đứa trẻ muốn nối nghiệp cha, nằm trong bữa cơm tất niên ấm áp ngay sau thời khắc Giao thừa khi bộ đội mời bà con dân bản lên đồn ăn Tết.
Sương đêm buông xuống lạnh dần, trừ cán bộ chiến sĩ trực chiến tại đồn, các đội công tác địa bàn lặng lẽ tỏa ra nhiều hướng khắp khu vực biên giới. Gần 5 giờ sáng ngày mùng 1 Tết, tôi nằm cuộn trong cái chăn bông rằn ri màu xanh lá, nghe vọng lại tiếng đồn trưởng dõng dạc: “Báo cáo các đồng chí, cho đến giờ phút này, địa bàn của chúng ta không có tiếng pháo nổ, khu vực A Vao an toàn tuyệt đối!” Một tràng vỗ tay giòn giã vang lên, đánh thức mùa xuân đang cựa mình trong nắng sớm.
Chiều mùng 1 Tết, tôi rời A Vao, tiến về hướng Đồn Biên phòng Quảng Nhâm (Huế). Con đường bê-tông cấp phối ngoằn ngoèo, “hở hàm ếch” nhiều chỗ và không có điện đã dẫn dụ tôi lạc vào “Đồi thịt băm” A Bia ở điểm cao 937. Nơi đây còn được lính dù Mỹ đặt cho cái tên “Hamburger Hill” bởi sự khốc liệt và thiệt hại của quân viễn chinh Mỹ trong trận đọ sức 10 ngày đêm năm 1969 với quân dân A Lưới. Giữa không gian u linh của sương mù và gió hú, bất giác tôi chợt nghĩ: “Hòa bình lâu rồi, liệu sâu dưới lớp đất kia, những linh hồn năm xưa có còn đau đớn?”.
Phải đến khi Trung úy Trương Xuân Trà - người chiến sĩ biên phòng ở Đội công tác địa bàn gần đó xuất hiện, tôi mới thật sự hoàn hồn. Trà dẫn đường cho tôi hơn 20 km tới Đồn biên phòng Quảng Nhâm, bắt tay tôi tạm biệt rồi vội vã quay xe máy chạy về Đội công tác. Tay cậu lạnh ngắt. Lúc đó đã hơn 9 giờ tối.
Thấy tôi ngỡ ngàng vì tất cả cán bộ chiến sĩ trực Tết đều đợi để cùng ăn bữa cơm muộn, Thượng tá Lê Xuân Thanh, Chính trị viên phó, cười xòa: “Mùng 1 có cô khách xông “nhà” là ý nghĩa lắm, giống như có “hậu phương” ở gần, em ạ!”. Và thế là, không gian mênh mang nơi biên cương này bỗng chốc thu bé lại bằng đúng cái khoảng ấm áp trong nhà ăn của đồn biên phòng, nơi mà lộc cộc vài người lính dành hết tình cảm yêu thương cho người em gái. Tôi chợt hiểu rằng: “Để giữ cho biên giới bình yên, các anh đã phải hy sinh chính bình yên riêng tư của cá nhân mình”.
Mùng 2 Tết, tôi đến thăm hai nữ anh hùng Hồ Kan Lịch và Hồ Thị Đơm, đều là người dân tộc Pa Kô. Bà Kan Lịch dù đau đớn vì tai biến vẫn cố mỉm cười để chụp ảnh lưu niệm cùng tôi, hay gia cảnh kiệt quệ của bà Hồ Đơm vì di chứng của chất độc da cam vẫn đang từng ngày đe dọa bà cùng các con cháu. Lòng tôi thắt lại khi nghĩ tới những đứa trẻ dở dang việc học, cuốn sổ nợ ngân hàng cứ dày thêm sau mỗi đợt chạy chữa và cả những khoảng lặng đầy ưu tư khi các nguồn hỗ trợ vẫn chưa thể khỏa lấp hết nỗi đau mà gia đình đang gánh chịu.
Rời A Lưới trong cơn mưa tầm tã của ngày mùng 3 Tết, tôi ghé sân bay A So, nơi từng là “trạm trung chuyển” chất độc hóa học dioxin trong chiến tranh và mệnh danh là "tọa độ chết” với nỗi đau da cam dai dẳng truyền đời qua nhiều thế hệ. Giữa thung lũng xanh mướt ấy, tôi nhận ra rằng, vết thương chiến tranh vẫn chưa hề khép miệng. Mặc dù dự án “Xử lý đất nhiễm độc dioxin tại sân bay A So” đã hoàn thành năm 2023, di chứng của nó vẫn âm ỉ chảy trong huyết quản của những thế hệ thứ ba, thứ tư.
Điểm cuối của hành trình đưa tôi đến Đồn Biên phòng A Đớt và cột mốc 666. Có lẽ, đây là một trong những cột mốc đẹp nhất mà tôi từng đi qua. Nhưng để chạm tay vào chủ quyền ấy, con đường lên cột mốc lại đầy rẫy hiểm nguy với những đoạn sạt lở nghiêm trọng, phải căng dây bảo hộ. Nhìn sang phía bạn Lào, đường tuần tra cũng chưa thể nối liền do địa hình bị chia cắt bởi thiên tai cực đoan những năm gần đây.
Lời kết cho một hành trình
Lưu lại thành phố Huế vào mùng 5 Tết trước khi về Hà Nội, nhìn phố xá rực rỡ cờ hoa, dòng người hối hả du xuân, tôi chợt thấy lòng mình chùng xuống. Ở nơi biên viễn kia, Tết chỉ là những ngày lặng lẽ trong mưa rét, là những cung đường tuần tra sạt lở, là những chiếc chăn ẩm ướt không bao giờ khô, là bàn tay tê cóng vì lạnh.
Biên thùy không có Tết đủ đầy, nhưng biên thùy có tình người nồng đượm. Và tôi biết, mình sẽ còn quay lại.
Sau đợt sáp nhập địa giới hành chính, diện tích biên giới phình to ra, trong khi quân số vẫn mỏng, khiến đôi chân các chiến sĩ biên phòng gần như không có thời gian ngơi nghỉ.