Đừng để mất sự độc đáo và bền vững trăm năm
- Phóng viên: Để hoàn thành một bức tranh sơn mài khổ lớn, có khi nguyên cả tấm vóc, với các công đoạn kỹ thuật đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực, ông có cần sự trợ giúp, nhất là khi đã qua ngưỡng tuổi 70, khi sáng tác tranh mới cho triển lãm cá nhân lần này?
Họa sĩ Đoàn Văn Nguyên: Trên tranh của tôi không có dấu ấn của bất kỳ ai khác tôi. Xúc cảm trong nghề của họa sĩ, nghe hơi trừu tượng nhưng có thể hiểu: Khi hứng thú, nét bút của tôi khác và ngược lại, nét bút cũng rất khác, huống hồ là có đôi tay của người ngoài phụ vào... Tôi luôn tự làm tất cả.
Tôi lại lấy dẫn chứng, bức “Chuyện ông Gióng” hoàn thành năm 2024, hầu hết phần thân của con ngựa đều có dát vỏ trứng, nhưng từng mảnh nhỏ, to như thế nào, khoảng xa, gần với nhau ra sao để tạo chất cảm bề mặt ở từng bộ phận cơ thể của con ngựa... đều không có công thức. Chỗ này gợi sự bay bổng, chỗ kia đem lại cảm giác như bông, xốp, chỗ nọ gợi sự khỏe khoắn, đầy sức sống..., tất cả phụ thuộc vào cảm hứng và cân nhắc của tôi ngay trong lúc làm việc.
Trong xưởng vẽ mà ta đang ngồi đây, kể từ lúc bắt đầu một bức tranh khổ lớn, cả tấm vóc sẽ được kê yên vị cho đến lúc tôi hoàn thành. Tôi tự tìm cách để xử lý đầy đủ các bước kỹ thuật sơn mài tại chỗ, kể cả ủ và mài.
- Ông mất khoảng bao lâu để hoàn thành bức có kích thước tương đối lớn, như 120x180cm?
Cũng phải đến sáu tháng.
- Thưa ông, những năm gần đây, xuất hiện nhiều thể nghiệm với chất liệu sơn mài trên nền khác với vóc gỗ được làm theo lối truyền thống, như trên toan, kim loại, kể cả có thể nghiệm “sơn không mài”. Ông có quan sát các hiện tượng này không và đánh giá thế nào?
Có đi xem hết, và tôi cũng nghiên cứu chán cả rồi (cười). Ta có thể đưa sơn mài lên cả lụa mỏng manh ấy chứ! Mọi thể nghiệm, thử với cái mới đều có phần lý thú, hấp dẫn ban đầu nhưng nếu không cẩn thận, tự ta sẽ xóa bỏ đi đặc thù và ưu thế của hội họa sơn mài.
Một tấm vóc sơn mài chuẩn mực được làm qua 36 bước, bề mặt vóc nhẵn bóng như kính, vô cùng bền vững, không loại vi trùng, mối mọt hay tác động thời tiết nào làm cho nó bị biến dạng. Vóc này không hút màu, không thấm màu. Các nét màu, lớp vàng quỳ, bạc quỳ được họa sĩ cân nhắc để chồng lên rồi lại dùng kỹ thuật mài để moi ra cho đúng sắc độ mong muốn. Vì thế, sơn mài khác hẳn với các chất liệu hội họa khác. Để có độ sâu thẳm mà trong veo của không gian mặt nước với màu son trai như bức tranh bạn đang xem, phía dưới lớp son phải có các lớp sơn then, tăm vàng, rồi họa sĩ moi dần những hạt ẩn sáng ấy lên để chúng ảnh xạ lấp lánh.
Riêng một màu son từ thần sa, chu sa đã có tới bốn mức độ: son trai là mức đẹp nhất, rồi đến son tươi, son thắm, son nhì. Mỗi màu son ấy, khi quyện cùng sơn then, rồi vàng, vỏ trứng, và mài, cho ra vô cùng phong phú sắc độ. Bảng màu sơn mài đòi hỏi người thưởng lãm cũng phải dành thời gian ngắm lâu, xem sâu là vì thế.
Sơn mài độc, “ăn” cả người không hợp đấy (cười) nhưng cũng độc đáo và bền vững trăm năm là ở chỗ đó, chúng ta đừng để mất.
- Sự đặc sắc của hội họa sơn mài Việt Nam còn ở chỗ các họa sĩ, trong đó có ông, đã không dừng lại với một ngôn ngữ tạo hình dễ tiếp cận đại chúng. Như ông, ông đã đi từ ngôn ngữ hiện thực tới biểu hiện, biểu hiện trừu tượng. Các bước chuyển về ngôn ngữ tạo hình như vậy có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với ông?
Đó là quy luật phát triển của nghệ thuật. Người làm nghệ thuật đích thực, có suy nghĩ, đều sẽ không dừng lại mà luôn tự đổi mới. Khi họa sĩ nắm vững nguyên lý kỹ thuật sơn mài và sáng tạo với bảng màu, với các ngôn ngữ tạo hình, ta sẽ tạo nên một nền hội họa sơn mài Việt Nam rất quý giá.
Nhiều mong muốn, trao gửi cho thế hệ tương lai
- Hình như ông không bao giờ gửi bán tranh ở bất kỳ một phòng tranh, không gian nghệ thuật nào. Vì sao vậy, thưa ông?
Tranh cũng là hàng hóa nhưng là hàng hóa đặc biệt. Tranh bày bán ở các cơ sở kinh doanh thường là: Đầu vào thì gọn, ít, ngắn, rẻ, nói cách khác là đầu tư chi phí và thời gian ít, còn đầu ra là “thấp”, tức là giá thấp, thì mới tiêu thụ được. Nhưng hội họa sơn mài mà tôi làm, toàn dát vàng, chôn vàng, làm sao mà “thấp” được?! (cười).
Bao lâu nay, tôi vẫn vẽ tranh giấy dó và tranh lụa, dễ bán hơn, để có chi phí mà nuôi tranh sơn mài. Tôi cũng có bán tranh sơn mài nhưng rất ít, chủ yếu là để lấy tiền mua màu và vàng cho tranh sau. Có một nhà sưu tập trong nước hiện sở hữu chừng 20 tác phẩm của tôi, trường hợp cũng hãn hữu.
- Trở lại với triển lãm cá nhân mà ông đang chuẩn bị. Với 80 bức tranh, trong đó có nhiều bức khổ lớn, công sức và chi phí để tổ chức được một trưng bày chỉn chu cũng không nhỏ. Ông mong chờ điều gì từ sự kiện này?
Một trong những lý do để tôi lui lại thời gian trưng bày triển lãm là vì tôi muốn đợi Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam hoàn thiện không gian trưng bày mỹ thuật mới, rộng rãi, khang trang hơn, để bày tranh một cách thoáng đãng hơn.
Trong thời gian trưng bày khoảng hai tuần ở không gian mới, gần với khu vực đào tạo bên trong trường, các em sinh viên có thời gian và không gian để xem lâu hơn tranh của một người cũng trưởng thành từ ngôi trường này, có hàng chục năm giảng dạy hội họa sơn mài tại đây. Có lần, họa sĩ Diệp Quý Hải, giảng viên của trường hỏi mượn tôi ảnh chụp hai bức tranh “Quán chợ” và “Chọi trâu” để làm giáo cụ trực quan cho sinh viên. Tới đây, các em sẽ được xem trực tiếp tranh của tôi một cách thuận tiện nhất.
Tôi còn mong muốn có một cuộc tọa đàm về tranh sơn mài truyền thống với sinh viên, nói hết cho các em biết về kỹ thuật và nghệ thuật tạo hình ở hội họa sơn mài. Tôi sẽ trao đổi bước đầu về mong muốn này với đại diện lãnh đạo của nhà trường.
- Tôi hiểu là ông suy tư nhiều về tương lai của hội họa sơn mài Việt Nam cũng như về các thế hệ kế cận?
Như tôi đã nói, ta đừng nhầm lẫn giữa thể nghiệm, tìm tòi cái mới với phi nghệ thuật, với sự đánh lừa người xem, với mị nghệ thuật. Nhiều họa sĩ, vì cơm áo gạo tiền, cứ tự rút bớt dần các bước tuân thủ kỹ thuật truyền thống, cứ tự “thổi giá” các thể nghiệm của mình lên, có thể người ngoài nghề không biết nhưng không thể lừa người trong nghề.
Nhưng mà tôi vẫn tin, nền hội họa sơn mài quý giá của Việt Nam sẽ chẳng thể mất được. Vẫn có một số họa sĩ trẻ hơn tôi tự biết phải làm gì và họ bền bỉ với sơn mài truyền thống.
Tôi đang suy nghĩ về việc sẽ chọn ra hai bức tranh nổi bật trong kỳ triển lãm lần này để làm quà tặng cho thế hệ tương lai theo cách thức phù hợp, như gửi tặng các cơ sở bảo tàng và giáo dục công lập chẳng hạn. Tôi cũng mong muốn sẽ nhận được nhiều phản hồi từ công chúng về triển lãm sắp tới để có thêm cơ sở lựa chọn hai món quà này.
- Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!
Trên hành trình 50 năm nghiên cứu, sáng tác hội họa sơn mài, họa sĩ Đoàn Văn Nguyên đạt được nhiều thành tựu. Ông là Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật chuyên ngành Hội họa, Hội Mỹ thuật Việt Nam, nhiệm kỳ 2004-2009. Năm 2007, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật với bộ 5 tác phẩm sơn mài: “Bác làm thơ”, 100x130cm (1990); “Những cô gái Tây Nguyên”, 100x130cm (1999); “Trên cao nguyên”, 100x 85cm (1995); “Đi học chữ Bác Hồ”, 100x130cm (1996); “Chọi trâu”, 180x120cm (2000). Riêng bức “Chọi trâu” đã được chọn để thể hiện phiên bản có kích thước 280x700cm, trưng bày tại Trung tâm Hội nghị quốc gia như một món quà chào mừng Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương APEC do Việt Nam đăng cai tổ chức, năm 2006.