Mùa rêu đỏ

“Em tên gì? bao nhiêu tuổi?”, vừa hỏi, tôi vừa nhìn gương mặt trong veo sau làn khói mỏng bốc lên từ cái chậu gỗ ngào ngạt hương dược liệu. Cô gái im lặng, khẽ cười. Mãi tới khi những đầu ngón tay cô bắt đầu bấm sâu huyệt thái dương, cô mới rủ rỉ: “Em tên Lan, hai mươi ba rồi…”.
Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG
Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG

Giọng nói buồn, mờ dần như sương. Mỗi tối, khi lên khu sinh thái làm ca đêm, cô thường mang theo con. Đứa bé gái chừng ba tuổi, bi bô chơi với bà chủ ở mé hiên, khu nhà sao chè. Lan cũng như bao cô gái làm công ở đây, ngày thu hái dược liệu, chè, rau sạch…, tối xoa bóp dưỡng sinh. Ngày của họ dằng dặc từ lúc mặt trời chưa chui khỏi màn sương tới khi gà rừng eo óc gáy.

Lan kể, đứa bé là con thứ hai, đứa đầu lớn bổng, trông nom nhà cửa được rồi. Cả bản này, mỗi chồng cô học đại học. Mà học gì sáu, bảy năm chưa xong. Vẫn ở dưới thành phố ấy, năm ghé nhà đôi lần. “Nhưng không sao cả, em quen rồi”, giọng người mẹ trẻ đều đều. Đôi bàn tay cô gợn mầu chàm. Cuối thu, đang mùa nhuộm vải, Lan vẫn băng băng xe máy từ khu sinh thái về nhà, lúc vườn tược cám bã, khi se lanh, nhuộm vải. Con gái miền này sớm biết đã thêu thùa may vá, siêng năng khéo léo, lúc về nhà chồng mới đủ váy áo, chăn đệm. Giờ thì lại dành cho con. Dưới mấy gốc mận già sần sùi lúc nào cũng tăm tắp sào tre bắc ngang cành nọ, nhánh kia hong vải. Từng mảnh chàm thẫm xanh phấp phới trên cả những nong sắn, vạt ngô. “Nếu chỉ ở bản đi nương, nhuộm vải, lấy chồng, sắc chàm trên tay sẽ càng đậm hơn, như bàn tay bà cụ chiều nay chào chị”, giọng Lan nhè nhẹ.

*

Rừng núi sau mưa lũ, sương bay mù trời. Các vụ sạt lở đất nghiêm trọng thường xảy lúc đêm về sáng. Bao nhiêu cuộc đời đã bị vùi lấp, bao nhiêu thương tích vẫn chập chờn và những cuộc kiếm tìm, chờ mong chưa bao giờ chấm dứt. Người của khu nghỉ dưỡng báo với tôi, sẽ có xe ôm đón từ dốc núi. Lái xe đội mũ bảo hiểm, trùm khăn kín mặt, liên tục bẻ lái, uốn lượn gấp khúc, rồ ga. Hai bên đường, càng hút sâu, cây rừng càng thẫm lại.

- Anh chạy xe chậm chút, tôi thấy chóng mặt - tôi nói như hét thi cùng gió.

- Cô sợ gì? Vùng này, người âm đón thì còn. Người dương đón thì… - từng lời của lái xe, không có vẻ gì là bông đùa, đóng đinh vào gió.

- Nói vậy thôi, cô làm gì giữa chốn rừng rú này? Cô cứu hộ ai? - người đàn ông tiếp tục hỏi. Có vẻ đang phán đoán tôi hội nhóm từ thiện nào đó. Anh ta tên Mạc Văn. Gốc gác không phải người ở bản.

Những ngày lưu trú ở đây, tôi mới biết nhà Mạc Văn lọt thỏm dưới thung lũng Cấm, dân trong vùng gọi là Nhà Đòm. Đó từng là một gia tộc quyền uy, nườm nượp kẻ ăn người ở, mọi bức tường, kể cả hàng rào quanh vườn đều được chồng xếp bằng đá nguyên khối. Bây giờ, đá lên rêu, mà lại là rêu đỏ. Và người ta gọi chệch Đòm thành Đỏ. Căn nhà thênh thang, lành lạnh giờ chỉ còn Mạc Văn với mẹ già.

*

Tôi thường nằm trong nhà sàn, nhìn ra ô cửa. Chạc cây gần đấy có cái tổ chim trống rỗng. Mỏi mệt, ủ ê ngập đầy dần. Thiên nhiên vẫn mở bàn tay, ngay cả khi ta hờ hững quay gót. Tôi cố nhấc người dậy, men theo con đường dốc, nghe được tiếng chim, tiếng lá cành khẽ chạm nhau. Thỉnh thoảng một chú chim từ lùm cây bụi đập cánh chập chờn. Rồi kia nữa, cứ đi tới một khúc quanh lại gặp lũ gà rừng dạn dĩ kiếm ăn, dáng vẻ thật ung dung, thong thả.

“Chị đói chưa, em làm chút mì nhé! À mà món này cứ phải Mạc Văn”, Lan vừa gùi chè về khu sao ướp, vừa không quên ý tứ chăm chút, chào hỏi khách. Lan đẹp đến căng nhức. Đôi gò má ửng hồng, hơi lấm chấm tàn nhang, dấu vết nhọc nhằn nhưng cũng điểm tô cho nét duyên thêm mặn mà, sâu thẳm. Trên đầu, tóc búi gọn đằng gáy, phía trên vầng trán là vạt khăn quấn khéo léo, buông lơi những tua rua chấp chới.

Có một bí mật trong ngôi nhà ắng lặng của Mạc Văn. Là bức ảnh Lan thời thiếu nữ. Tôi không thôi nghĩ ngợi: Liệu rằng Lan có biết sự có mặt của bức ảnh này? À mà có khi cô cũng chưa bao giờ đặt chân vào ngôi nhà phủ đầy rêu đỏ ấy. Mẹ Mạc Văn giải thích, rêu chỉ đỏ theo mùa, theo con trăng nữa. Xuân và hạ rêu xanh, nhưng sắc xanh nhạt nhòa, èo uột, xanh như chẳng để làm gì. Chỉ quãng cuối thu đầu đông, lúc úa tàn, rêu mới rực lên sắc đỏ đầy ma mị. Trước sau gì thì Mạc Văn cũng chỉ yêu cô gái ấy. Nhưng cảnh nhà sa sút kiệt cùng, anh co cụm như con sâu trong kén. Ngày Lan được gả cho nhà khác, áo chàm nâng bạc trắng rung reng, anh tựa lưng vào mảng tường rêu đỏ bong dần mà bất lực.

*

Thực ra, bí mật đâu chỉ mỗi bức ảnh trong căn nhà rêu đỏ. Tôi không biết cách mở lời cùng Lan về câu chuyện liên quan đến Thào - chồng cô. Có nên nói cho Lan biết, Thào chung sống với Vy - một phụ nữ nhiều hơn tuổi anh và đó là bạn thân của tôi? Vy là mẹ đơn thân, nhà nuôi rất nhiều mèo. Lạ thay, bốn bức tường Vy cũng sơn mầu đỏ. Đỏ như rêu úa chứ không phải sắc son, sắc thẫm thân quen. Giữa phòng khách là bức chân dung tự họa. Vy chỉ vẽ cặp mắt trong chân dung mình, mái tóc buông xõa hai bên thành vệt đen như đôi rắn chụm đầu. Vy không kể tôi nghe gặp Thào trong hoàn cảnh nào, nhưng con riêng Vy, hơn tuổi con Thào đã gọi anh ta là bố. Vy muốn tôi gặp gỡ, dàn xếp sao cho Lan đồng ý chấm dứt mối quan hệ vợ chồng, để Vy chắc chắn về những gì mình đang có được. Tính Vy, đã muốn là phải được.

- Em chưa bao giờ xuống phố à? Nếu em muốn thì đi cùng tôi chuyến này, hoặc tôi có thể hỏi han tung tích chồng em… - tôi gợi chuyện với Lan lúc cô đang lom khom cắt vạt ngải cứu già đã đơm hoa vàng hung.

- Để làm gì hở chị? Rồi em sẽ vẫn thế này, con em vẫn chơi thế kia, nhưng em nghe chị, có khi chúng không còn bố… - giọng Lan nhẹ như gió, mà sắc như dao, đường đột cứa vào tôi nỗi bàng hoàng, sửng sốt. Cô đã biết những chuyện gì? Hay chỉ là nhất thời buột miệng? Lan có biết Vy không? Có biết tôi là bạn Vy và đã cất công lên đây làm một việc thừa thãi?

Ánh mắt cô thăm thẳm mà bình thản nhìn từng bông hoa già đang tách mình, cuộn bay theo gió. Cơn gió màu hung thổi từ đỉnh núi cao xuống thung lũng Nhà Đòm. Đang mùa rêu chín. Ấy là cách nói của Lan. Còn Mạc Văn hay mọi người, gọi là mùa tàn lụi.

- Nếu không phải là rêu chín, thì gọi thế nào cho hợp mầu đỏ kia? - tôi hỏi như cách lảng tránh.

- Không chín thì gọi là cháy, chị à! - giọng Lan lần này như đóng đinh vào gió, giống cách Mạc Văn nói với tôi khoảnh khắc đầu tiên gặp gỡ.

*

Mẹ con Mạc Văn lúi húi trong bếp, đãi tôi bữa ăn trước khi về. Mì tráng bằng bột gạo nguyên chất, không tẩy mầu, từng bánh trắng nõn vắt vẻo trên sào trúc đang bốc hơi nóng hổi được anh dỡ xuống thái đều tay. Bà cụ chan nước dùng, xếp thịt gà bóng vàng và cải xanh nõn lên. Món ăn nồng nã, ngọt mềm mà cũng nhân nhẩn đắng cay đẩy lên từ sâu xa như thang thuốc hữu hiệu vỗ về cảm giác hoang mang, vô định trong tôi. “Cô uống chút rượu nhé!” - vừa chào mời, Mạc Văn vừa vào gian trong, bưng ra hai hũ rượu, rót đầy hai bát. Một loại mầu hổ phách non, trong veo như nắng rẻo cao. Nó khiến tôi nhớ Lan, nhớ nụ cười hồn hậu và và đôi tay thật dịu dàng.

- Cô đoán ra rượu gì không? - bà cụ nheo mắt hỏi.

- Sơn tra?

- Đúng rồi! Cô thật tinh tường.

“Dệt bộ váy áo đẹp thế này thì mất bao lâu?” - tôi hỏi Lan. Cô nở nụ cười ấm áp: “Chẳng ai tính tháng tính ngày, nhưng người hiểu chuyện, nhìn tay người làm là đoán được”. Khung cửi Lan vừa dệt mới được chừng vài gang tay thổ cẩm, nhấp nháy hoa văn. Cô thủ thỉ, muốn có sắc đỏ như mộc miên thắp lửa giữa rừng thì phải chiết từ loại cỏ thuộc họ nhà dương xỉ, lá nhỏ, mọc ra từ các hốc cây mục ruỗng. Đi rừng cả ngày cả buổi, không khéo cũng chẳng đủ một gùi, về giã nát, ngâm nước suối rồi cho vôi bột vào tạo mầu. “Bằng không, thì…” - lửng lơ câu nói của Lan, treo vào khoảng trống.

Điện thoại chợt reo, tôi mở máy, giọng Vy đầy sốt sắng: “Sao rồi? Xong chưa? Dứt điểm được không?”. Tôi im lặng. Khó để nói cùng Vy, lời dịu êm của cô gái bản: “Nhà là nơi được trở về, nếu Thào chối, thì thôi...”.

*

Mạc Văn không đưa tôi xuống núi mà chính Lan chủ động nhận phần việc ấy với ông bà chủ. “Cũng tốt, mấy ngày qua một tay nó chăm sóc cho cô ấy”, lời bà chủ đầy hồ hởi, hài lòng.

- Hôm trước, nói chuyện tạo mầu cho vải, ngoài cây trong rừng, còn gì nữa? - tôi tò mò hỏi Lan.

- Thế chị có biết, hũ rượu mầu hồng ủ từ gì không? Thứ ủ rượu cũng dùng nhuộm vải. Là rêu chín đấy. Mà thôi, chị gọi rêu cháy cũng được! - cô từ tốn đáp lời tôi.

Cuối thu, chặng đường từ khu sinh thái tít đỉnh núi cao xuống dốc toàn hoa trắng nở. Hoa như thể những đám mây, lửng lơ kéo từ khoảnh rừng này qua chân đèo nọ. Trên vai áo chàm của Lan cũng thêu hoa. Một bông hoa đang rút mình trong gió. Ngước lên trời, nhìn quanh núi, đâu đâu cũng chỉ mầu xanh của cây, mầu trắng của mây, của hoa và sương chùng chình vây bủa. Nhưng tận sâu trong lòng xứ sở này lại là sắc đỏ. Và rồi, khoảnh khắc ấy, khi Lan nói, lòng tôi se thắt, vụn vỡ ra, bởi một ánh mắt buồn mà đẹp đến nao lòng.

Ai ngờ được, rượu cũng từ rêu mà thổ cẩm cũng từ rêu. Người ta nghĩ đến úa tàn, riêng Lan nhìn vào mắt con mà thấy mùa đang rưng rưng chín.

Có thể bạn quan tâm

Mưa dông. Ảnh: SONG ANH

Những cơn dông

Không hiểu sao, từ nhỏ đến giờ, tôi rất thích ngắm nhìn những cơn dông kéo đến trước mỗi trận mưa. Với tôi, đó là một khoảnh khắc kỳ diệu của thiên nhiên vũ trụ.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

3 triệu đồng

Gã trở nhà mới gần 10 giờ đêm. Trời oi nồng, vài hạt mưa lắc rắc càng làm tăng sức nóng. Trong con hẻm cụt không còn bóng người, gió yếu ớt chẳng rơi nổi chiếc lá, tưởng như màn đêm đã chìm sâu từ kiếp nào.

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.