Luật Trí tuệ nhân tạo: Quản lý “đầu ra” để an toàn, không cản trở đổi mới

Luật Trí tuệ nhân tạo (AI) xác lập nguyên tắc chỉ điều chỉnh đầu ra và hành vi sử dụng, không can thiệp vào mô hình, qua đó bảo đảm không cản trở đổi mới sáng tạo, đồng thời đặt trọng tâm vào an toàn, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Luật Trí tuệ nhân tạo: Chỉ điều chỉnh đầu ra và hành vi sử dụng trí tuệ nhân tạo, không cản trở đổi mới sáng tạo.
Luật Trí tuệ nhân tạo: Chỉ điều chỉnh đầu ra và hành vi sử dụng trí tuệ nhân tạo, không cản trở đổi mới sáng tạo.

Tiếp cận quản lý dựa trên rủi ro, hài hòa giữa an toàn và phát triển

Quốc hội vừa thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo (AI) với 429/434 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (90,70%), bổ sung một nền tảng thể chế quan trọng cho công nghệ mới nổi. Được biết, quá trình xây dựng Luật được đặt trong bối cảnh tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Một số mô hình quản lý thiên về kiểm soát chặt, chú trọng an toàn; một số mô hình lại ưu tiên thúc đẩy phát triển; có mô hình kết hợp cả an toàn và phát triển ở các mức độ khác nhau. Trên cơ sở đó, Luật lựa chọn cách tiếp cận kết hợp có chọn lọc: nhấn mạnh an toàn ở mức phù hợp nhưng hạn chế thủ tục, đồng thời duy trì các chính sách thúc đẩy phát triển để hình thành năng lực AI, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

Một quyết định quan trọng là Luật theo hướng “luật khung” gọn, quy định nguyên tắc và khuôn khổ quản lý nhà nước; các nội dung kỹ thuật sẽ tiếp tục được quy định tại nghị định. Luật khẳng định không điều chỉnh mô hình AI, bởi mô hình là sáng tạo nội bộ của doanh nghiệp. Trọng tâm điều chỉnh là đầu ra, hành vi sử dụng và rủi ro AI gây ra đối với xã hội. Theo hướng quản lý dựa trên rủi ro, Luật thiết kế phân tầng rõ ràng: giảm từ bốn xuống ba mức rủi ro (thấp, trung bình, cao), kèm một điều về các hành vi bị cấm.

Với hệ thống AI rủi ro cao, Luật lựa chọn cơ chế quản trị theo hướng “tối thiểu trước triển khai – mạnh hậu kiểm”. Doanh nghiệp tự chuẩn bị hồ sơ đánh giá an toàn nhưng không phải xin phép; hồ sơ được yêu cầu xuất trình khi cơ quan quản lý thực hiện hậu kiểm. Cách tiếp cận này nhằm giảm thủ tục hành chính, vẫn duy trì công cụ kiểm soát rủi ro dựa trên trách nhiệm tự đánh giá và khả năng kiểm tra, thanh tra sau.

Về bồi thường thiệt hại, Luật bỏ cơ chế phạt theo doanh thu và chuyển sang nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại, đồng thời cho phép áp dụng chế tài đủ mạnh như đình chỉ cung cấp dịch vụ. Đây là hướng tiếp cận đặt trách nhiệm vào hậu quả và nghĩa vụ khắc phục, phù hợp với yêu cầu bảo vệ người dân và kỷ cương thị trường.

Một điểm đáng chú ý: Luật không xếp hệ thống AI rủi ro cao vào nhóm “nguồn nguy hiểm cao độ”. Lập luận là rủi ro chủ yếu phát sinh từ quyết định của phần mềm và tác động xã hội, không phải rủi ro vật lý tự thân như xe cơ giới hay chất nổ. Tuy vậy, để tăng bảo vệ người dân, Luật bổ sung cơ chế bồi thường nghiêm ngặt, quy định trách nhiệm bồi thường cho các chủ thể liên quan ngay cả khi không có lỗi trong các trường hợp theo quy định.

anh-bai-27-1.png
Luật được Quốc hội thông qua với kết quả: 429/434 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 90,70%.

Lấy con người làm trung tâm: an toàn, minh bạch, trách nhiệm

Luật AI bao quát từ nguyên tắc phát triển, chính sách của Nhà nước, cơ chế phân loại-quản lý rủi ro, yêu cầu minh bạch, xử lý sự cố, đến đánh giá sự phù hợp đối với hệ thống AI rủi ro cao. Trọng tâm xuyên suốt là lấy con người làm trung tâm: duy trì kiểm soát của con người đối với các quyết định quan trọng, hạn chế thiên lệch và phân biệt đối xử; khuyến khích phát triển AI xanh, bền vững và bao trùm.

Luật cũng đưa ra các quy định bảo vệ xã hội trước nguy cơ lạm dụng AI, trong đó có danh mục hành vi bị cấm như dùng AI để giả mạo, thao túng nhận thức, thu thập-xử lý dữ liệu trái phép hoặc làm sai lệch thông tin thuộc diện phải minh bạch.

Trong trường hợp xảy ra sự cố nghiêm trọng, các chủ thể liên quan phải ghi nhận, thông báo và khắc phục kịp thời; cơ quan quản lý có thể yêu cầu tạm dừng hoặc thu hồi hệ thống theo quy định để bảo đảm an toàn cho người dân và trật tự xã hội.

Để tăng tính minh bạch và thuận lợi cho quản lý, Luật thiết lập Cổng thông tin điện tử một cửa về AI và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống AI, phục vụ đăng ký thử nghiệm, phân loại rủi ro, báo cáo sự cố, đồng thời tạo nền tảng dữ liệu cho công tác hậu kiểm.

Song song với quản lý rủi ro, Luật đặt ra các chính sách thúc đẩy phát triển và đổi mới sáng tạo trong AI. Luật cũng xác định hạ tầng AI quốc gia là hạ tầng chiến lược, phát triển theo mô hình thống nhất-mở-an toàn; khuyến khích hợp tác công tư và sự tham gia của doanh nghiệp, viện, trường và tổ chức xã hội.

Luật AI có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, thể hiện rõ định hướng: phát triển mạnh mẽ nhưng phải an toàn; đổi mới nhưng phải có trách nhiệm; công nghệ phải phục vụ con người.

Có thể bạn quan tâm

Hoạt động nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc, Hóa dầu (Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam).

Đầu tư hạ tầng nghiên cứu cho công nghệ chiến lược

Phát triển hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là một trong những giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW. Thực trạng lạc hậu về công nghệ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại hạ tầng nghiên cứu theo hướng tập trung, đồng bộ và hiệu quả.

Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Đà Nẵng đấu tranh tội phạm trên không gian mạng. (Ảnh: Công Vinh)

Nâng cao ý thức làm chủ, bảo vệ không gian mạng

Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục khẳng định chủ trương của Đảng về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, khi nhấn mạnh yêu cầu: Tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng...

UAV được thử nghiệm phun thuốc cho cây cà-phê tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Cơ chế sandbox đã sang giai đoạn triển khai thực tế

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, bên cạnh chuẩn bị cấp phép mô hình thử nghiệm có kiểm soát đầu tiên về phát triển kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái (UAV) tại tỉnh Điện Biên, một số địa phương, doanh nghiệp cũng bày tỏ quan tâm đến việc triển khai thử nghiệm mô hình sandbox.

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế tri thức. Những năm qua, Việt Nam đã chủ động hoàn thiện thể chế, từng bước xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ tương thích với chuẩn mực quốc tế và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 được thông qua cho thấy những vấn đề pháp lý sở hữu trí tuệ đã được điều chỉnh gần và sát thực tiễn hiện nay. Trong đó, việc định giá tài sản sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm đang là nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận, nhất là với giới khởi nghiệp liên quan đổi mới sáng tạo.

Các sản phẩm của Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ dược liệu Yên Sơn (thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) tăng mạnh về số lượng bán ra thị trường nhờ thực hiện truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: Hà An)

Hạ tầng số nông nghiệp và môi trường

Việc nhanh chóng xây dựng hạ tầng số cho ngành nông nghiệp và môi trường không chỉ để đáp ứng các điều kiện cần của thị trường mà còn là cơ sở cho quá trình chuẩn hóa kỹ thuật, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.

Thị trường dữ liệu: Từ kiến trúc đến hệ sinh thái

Thị trường dữ liệu: Từ kiến trúc đến hệ sinh thái

Kiến trúc và hạ tầng dữ liệu quốc gia dần hoàn thiện, dữ liệu tại Việt Nam cũng bắt đầu được vận hành theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, để trở thành nguồn lực kinh tế thực sự, thị trường dữ liệu vẫn phải vượt qua nhiều rào cản về pháp lý, chuẩn hóa, định giá và bảo vệ dữ liệu.

Mặt hàng gạo sinh thái chất lượng cao tại Cuộc thi gạo ngon khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang diễn ra tại Cà Mau.

Bài 2: Nâng tầm “hương vị phù sa”

Có được quy trình canh tác chuẩn chỉnh và những cánh đồng trĩu hạt mới chỉ là một nửa chặng đường. Để nâng cao sức cạnh tranh, Cà Mau đang quyết liệt ứng dụng công nghệ, thúc đẩy các mô hình sinh thái và triển khai chiến lược xây dựng thương hiệu bài bản nhằm định vị trọn vẹn “hương vị phù sa” trên thị trường quốc tế.