Người dân chỉ cập nhật khi có sai lệch thông tin
Ngày 15/4/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 08/2026/TT-BKHCN hướng dẫn việc xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất (số thuê bao di động). Theo đó, doanh nghiệp viễn thông chỉ được cung cấp dịch vụ viễn thông cho số thuê bao di động đã hoàn thành đăng ký thông tin thuê bao, xác thực thông tin thuê bao theo đúng quy định. Tất cả thuê bao di động phải hoàn tất xác thực với 4 trường thông tin bắt buộc gồm: số định danh cá nhân; họ, chữ đệm và tên; ngày, tháng, năm sinh; thông tin sinh trắc học ảnh khuôn mặt. Các dữ liệu này phải trùng khớp hoàn toàn với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Cục Viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, việc xác thực thông tin thuê bao theo đúng quy định vẫn được thực hiện thường xuyên, liên tục, đảm bảo thông tin thuê bao được đăng ký với giấy tờ hợp pháp, đúng người đăng ký khi được đối soát với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Trước đây, đợt tổng rà soát năm 2023 hướng tới đảm bảo tất cả các thông tin thuê bao đều được gắn với một giấy tờ hợp pháp được đối soát với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Trong năm 2023-2024, các doanh nghiệp viễn thông đã xử lý khoảng 17 triệu SIM thuê bao (trong đó, chuẩn hóa lại 11 triệu thuê bao và chặn 6 triệu thuê bao) có thông tin không trùng khớp với thông tin được đối soát trong Cơ sở dữ liệu dân cư.
Việc chuẩn hóa năm 2023 mới dừng ở mức độ “đúng thông tin theo giấy tờ” bảo đảm thông tin chủ thuê bao của bất kỳ số điện thoại di động nào đang hoạt động tại Việt Nam cũng đều gắn với một cá nhân thật, nhưng chưa bảo đảm tính chính chủ, có thể người sử dụng thực tế không phải là người đứng tên đăng ký.
Chính vì vậy, Thông tư 08/2026/TT-BKHCN đã bổ sung các biện pháp là xác thực khuôn mặt, xác nhận sử dụng trên VNeID nhằm bảo đảm kết quả đối soát chính xác hơn, hạn chế các hành vi như giả mạo giấy tờ thay đổi khuôn mặt trong khi nhà mạng không có khả năng đối soát kiểm chứng.
Ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông cho biết, việc thực hiện rà soát lần này do các doanh nghiệp viễn thông thực hiện, không yêu cầu toàn bộ người dân phải làm xác thực bởi người dân về cơ bản đã cung cấp đầy đủ thông tin bao gồm cả hình ảnh khi đăng ký thuê bao mới.
Người sử dụng chỉ phải cập nhật lại thông tin thuê bao khi có phát hiện sai lệch thông tin so với thông tin đối soát (hình ảnh,…), giấy tờ sử dụng để đăng ký bị hết hiệu lực (như chứng minh nhân dân 9 số..) hoặc bị phát hiện đang sử dụng sim không chính chủ. Trong các trường hợp đó, người sử dụng sẽ nhận được thông báo từ nhà mạng để thực hiện xác thực lại thông tin.
Tổng rà soát xác nhận chính chủ tới 15/6
Theo ông Nguyễn Anh Cương, một trong những điểm mới, đột phá của Thông tư số 08/2026/TT-BKHCN là trên cơ sở quy định tại Nghị định 70/2024/NĐ-CP, cùng với sự hỗ trợ, phối hợp hết sức tích cực của Cục C06 – Bộ Công an, lần đầu tiên có 1 cơ sở dữ liệu lưu trữ đầy đủ thông tin của tất cả các mạng thông qua ứng dụng VNeID, để từ đó người dùng có thể kiểm tra lại các SIM thuộc tất cả các mạng đang đứng tên, xác nhận số thuê bao đang sử dụng/không sử dụng để đảm bảo tính chính chủ.
Theo quy định tại Thông tư 08/2026/TT-BKHCN, các doanh nghiệp viễn thông sẽ có tối đa 30 ngày kể từ ngày 15/4 để cập nhật toàn bộ thông tin lên VneID. Dữ liệu hiện vẫn đang được Cục C06 - Bộ Công an tích cực phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông để đưa lên VneID. Do đó, tại thời điểm hiện tại, một số người dân vẫn chưa thấy dữ liệu của mình được hiện lên đầy đủ.
Tới thời điểm hiện tại, theo thống kê sơ bộ hiện đã có hơn 92 triệu thuê bao được đưa lên VneID. Đã có hơn 800.000 số được người dùng xác nhận không sử dụng chính chủ. Quá trình tổng rà soát xác nhận trạng thái chính chủ sẽ vẫn được triển khai tới 15/6.
Với tinh thần hỗ trợ người dân chuẩn hoá, bảo vệ quyền lợi chính chủ của thuê bao, trong quá trình triển khai, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp các đơn vị, các doanh nghiệp viễn thông xây dựng kế hoạch hỗ trợ các nhóm đối tượng yếu thế (người cao tuổi, người không có điều kiện tiếp cận công nghệ, người ở vùng sâu, vùng xa…) với các phương thức xác thực đa dạng, thuận tiện, dễ tiếp cận, hạn chế tối đa khó khăn cho người dân. Thí dụ, tổ chức các điểm hỗ trợ trực tiếp tại địa phương; cử nhân viên chính thức của nhà mạng hỗ trợ xác thực tại chỗ; phối hợp chính quyền cơ sở, lực lượng công an cấp xã, phường hướng dẫn người dân thực hiện xác nhận thông tin...