Kiến trúc và hạ tầng dữ liệu quốc gia dần hoàn thiện, kinh tế dữ liệu Việt Nam hướng tới vận hành theo cơ chế thị trường. Tuy nhiên, để trở thành nguồn lực kinh tế thực sự, thị trường dữ liệu vẫn phải vượt qua nhiều rào cản về pháp lý, chuẩn hóa, định giá và bảo vệ dữ liệu.
Ba điểm nghẽn của thị trường dữ liệu
Thực tiễn giám sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho thấy, dù kiến trúc dữ liệu quốc gia và nhiều cơ sở dữ liệu nền tảng đã được hình thành, việc chuyển hóa dữ liệu thành nguồn lực kinh tế vẫn đang đối mặt ba điểm nghẽn lớn. Đó là, khoảng trống pháp lý trong quyền và giao dịch dữ liệu; sự thiếu chuẩn hóa và liên thông giữa các hệ thống và việc chưa hình thành cơ chế định giá, giao dịch dữ liệu minh bạch.
Theo nhiều dự báo, thị trường dữ liệu của Việt Nam có thể đạt khoảng 3,53 tỷ USD vào năm 2030, với tốc độ tăng trưởng khoảng 14,2% mỗi năm. Tuy nhiên, hệ sinh thái doanh nghiệp dữ liệu vẫn còn hạn chế. Doanh nghiệp công nghệ số phần lớn vẫn tập trung vào sản xuất phần mềm, chưa hình thành nhiều doanh nghiệp chuyên khai thác và thương mại hóa dữ liệu.
Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp khi khai thác dữ liệu cho phân tích thị trường, quảng cáo số hay dịch vụ tài chính vẫn gặp khó trong việc xác định quyền sử dụng và trách nhiệm pháp lý khi dữ liệu được chia sẻ giữa nhiều bên. Vì vậy, dữ liệu ở nhiều nơi vẫn dừng ở mức hỗ trợ báo cáo hoặc số hóa quy trình, chưa trở thành nền tảng cho các mô hình kinh doanh mới.
Một thị trường dữ liệu chỉ có thể hình thành khi dữ liệu trở thành loại “hàng hóa” có thể kiểm định chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tái sử dụng. Điều này đòi hỏi hệ thống dữ liệu quốc gia phải được chuẩn hóa, liên thông và có cơ chế giao dịch minh bạch.
Để khai thác hiệu quả dữ liệu cho phát triển kinh tế đồng thời bảo đảm an toàn và bền vững, Việt Nam cần tiếp cận theo hướng tổng thể với 5 trụ cột:
Thể chế: hoàn thiện khung pháp lý minh bạch, xác lập quyền sở hữu và chia sẻ dữ liệu; Hạ tầng dữ liệu: xây dựng hệ thống dữ liệu và nền tảng số hiện đại; Nhân lực dữ liệu: phát triển đội ngũ có năng lực phân tích và quản trị dữ liệu; An toàn dữ liệu: thiết lập hệ thống bảo mật nhiều lớp để bảo vệ dữ liệu; Văn hóa dữ liệu: thúc đẩy sử dụng dữ liệu có trách nhiệm trong xã hội.
Tiến sĩ Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam.
Chỉ khi các yếu tố này được triển khai đồng bộ và gắn với cơ chế thị trường minh bạch, dữ liệu mới thực sự trở thành nguồn tài nguyên chiến lược phục vụ tăng trưởng bền vững. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, thị trường dữ liệu chỉ vận hành khi hội đủ ba yếu tố: khung chia sẻ dữ liệu đáng tin cậy, hệ thống trung gian dữ liệu được giám sát và cơ chế đo lường, định giá dữ liệu như một tài sản vô hình.
Liên minh châu Âu đã ban hành Đạo luật quản trị dữ liệu (Data Governance Act) nhằm tăng niềm tin trong chia sẻ dữ liệu và phát triển các dịch vụ trung gian dữ liệu để giảm rủi ro giao dịch. Bên cạnh đó, Đạo luật Dữ liệu của EU cũng đặt ra các quy tắc về truy cập, sử dụng và khả năng dịch chuyển dữ liệu giữa các nền tảng, nhằm tránh tình trạng “khóa chặt công nghệ”.
Trong một Trung tâm điều hành NOC của Viettel IDC.
Trong một Trung tâm điều hành NOC của Viettel IDC.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), dữ liệu là loại tài sản khó định giá vì giá trị phụ thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng. Do đó việc đo lường thường phải kết hợp nhiều phương pháp như chi phí tạo lập, so sánh thị trường và giá trị sử dụng. OECD ước tính khoảng 30% tăng trưởng năng suất tại các nền kinh tế phát triển có liên quan đến dữ liệu, cho thấy dữ liệu đang dần trở thành một loại tài sản vô hình quan trọng của nền kinh tế.
Đổi mới sáng tạo và công nghệ dữ liệu đang nổi lên như trụ cột trong hợp tác kinh tế mới giữa hai nước, với các lĩnh vực trọng tâm như chuyển đổi số, fintech và AI. Sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, Hội nghị cấp cao Việt Nam - Vương quốc Anh về dịch vụ tài chính cuối năm 2025 được xem là dấu mốc thúc đẩy hợp tác trong kinh tế dữ liệu và công nghệ số.
Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam Iain Frew
Để dữ liệu trở thành nguồn lực phát triển, cần tuân thủ một số nguyên tắc quản trị cốt lõi. Tiến sĩ Tô Văn Trường cho rằng trước hết phải chuẩn hóa và liên thông dữ liệu, bởi dữ liệu chỉ phát huy giá trị khi được kết nối và chia sẻ xuyên suốt trong hệ thống. Bên cạnh đó là minh bạch có kiểm soát, mở dữ liệu ở mức hợp lý để thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhưng vẫn bảo vệ dữ liệu nhạy cảm và dữ liệu cá nhân.
Một nguyên tắc quan trọng khác là lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, bảo đảm chính sách dữ liệu tạo ra giá trị thực và giảm chi phí tuân thủ cho khu vực tư nhân. Đồng thời, cần bảo đảm an toàn và chủ quyền dữ liệu, bởi dữ liệu không chỉ là tài sản kinh tế mà còn gắn với an ninh quốc gia. Để thực hiện các nguyên tắc này cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ hoàn thiện khung pháp lý, phát triển hạ tầng dữ liệu đến đào tạo nguồn nhân lực.
Hiện nay, một số địa phương cho thấy dữ liệu đang trở thành nền tảng cho mô hình quản trị mới. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Khung kiến trúc số được ban hành theo Quyết định số 3616/QĐ-UBND đã chuyển cách tiếp cận từ ứng dụng công nghệ thông tin sang quản trị dựa trên dữ liệu và các nền tảng số. Trong mô hình này, dữ liệu được xác định là tài sản chiến lược và là lớp trung tâm của hệ sinh thái số, cho phép chuẩn hóa, chia sẻ và tái sử dụng giữa các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp. Thành phố cũng áp dụng nguyên tắc “AI-First”, tích hợp AI vào các quy trình điều hành nhằm hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu theo thời gian thực.
Kiến trúc số 4 phân lớp của Thành phố Hồ Chí Minh.
Kiến trúc số 4 phân lớp của Thành phố Hồ Chí Minh.
Khi dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng của nền kinh tế, bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng trở thành điều kiện tiên quyết để kinh tế dữ liệu phát triển bền vững. Nhiều chuyên gia cảnh báo, nếu việc khai thác dữ liệu diễn ra nhanh nhưng thiếu cơ chế bảo vệ hiệu quả, nguy cơ lộ lọt thông tin cá nhân và lạm dụng dữ liệu sẽ gia tăng, làm suy giảm niềm tin của xã hội đối với các dịch vụ số.
Thượng tá Nguyễn Đình Đỗ Thi, Phó trưởng Phòng Tham mưu, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) cho rằng, dữ liệu đang trở thành “mạch sống” của chuyển đổi số và là tài sản quan trọng của quốc gia, trong đó dữ liệu cá nhân có giá trị đặc biệt. Việt Nam hiện có hơn 85 triệu người dùng Internet, tương đương hơn 84% dân số, khiến bảo vệ dữ liệu cá nhân trở thành yêu cầu cấp bách trong tiến trình chuyển đổi số. Theo ông, dữ liệu cá nhân cũng đang trở thành “mỏ vàng” của tội phạm mạng khi nhiều đường dây lừa đảo trực tuyến lợi dụng dữ liệu bị lộ lọt để xây dựng các kịch bản tinh vi nhằm chiếm đoạt tài sản của người dân.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân, điều kiện của thị trường dữ liệu
Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an); Trưởng Ban An ninh dữ liệu và Bảo vệ dữ liệu cá nhân (Hiệp hội An ninh mạng quốc gia) cho biết, sự phát triển của AI đang làm thay đổi căn bản phương thức tấn công trên không gian mạng. Nếu trước đây tội phạm mạng chủ yếu dựa vào kỹ năng và công cụ truyền thống, thì hiện nay với sự hỗ trợ của AI, các cuộc tấn công có thể được tự động hóa với quy mô lớn và mức độ tinh vi chưa từng có.
Theo nghiên cứu của Check Point, thời gian từ khi phát hiện lỗ hổng đến khi bị khai thác có thể rút ngắn từ khoảng 9 tuần trước đây xuống chỉ còn khoảng một giờ. Giai đoạn 2023-2025 đã phát hiện và xử lý hơn 30 vụ lộ lọt dữ liệu với hơn 160 triệu bản ghi bị xâm phạm.
Đáng chú ý, chỉ khoảng 16,3% doanh nghiệp đã triển khai đầy đủ chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhân, trong khi 83,7% còn lại vẫn đối mặt với rủi ro rò rỉ dữ liệu và trách nhiệm pháp lý theo quy định của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Các phương pháp bảo mật truyền thống đang dần bộc lộ hạn chế trước những mối đe dọa thế hệ mới. Vì vậy, cần tiếp cận theo hướng song hành: một mặt thiết kế và vận hành các hệ thống AI theo tiêu chuẩn an toàn và có kiểm soát; mặt khác sử dụng chính AI như một công cụ để nâng cao năng lực phòng thủ trên không gian mạng.
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, quy định rõ quyền của chủ thể dữ liệu, trách nhiệm của tổ chức xử lý dữ liệu và chế tài đối với các hành vi vi phạm. Đây được xem là nền tảng quan trọng để xây dựng môi trường dữ liệu minh bạch và củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp khi tham gia các dịch vụ số.
Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân do thiếu hệ thống quản trị và nhân lực chuyên môn. Bộ Công an đang phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để đánh giá mức độ tuân thủ và năng lực bảo vệ dữ liệu của doanh nghiệp.
Giới thiệu các giải pháp an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại sự kiện Internet Day 2025.
Giới thiệu các giải pháp an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại sự kiện Internet Day 2025.
Theo các chuyên gia, để triển khai hiệu quả Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân cần kết hợp hoàn thiện khung pháp lý, ứng dụng công nghệ và nâng cao nhận thức xã hội, trong đó nguyên tắc “bảo mật ngay từ thiết kế” được xem là nền tảng quan trọng.
Thực tế khẳng định bảo vệ dữ liệu không thể tách rời bài toán tự chủ công nghệ. Khi dữ liệu trở thành tài sản chiến lược của nền kinh tế số, năng lực bảo vệ dữ liệu xuyên suốt vòng đời - từ lưu trữ, xử lý, chia sẻ đến khai thác, cũng phải được coi là một phần của an ninh quốc gia. Sự phụ thuộc lớn vào nền tảng và sản phẩm công nghệ nước ngoài có thể làm suy giảm khả năng kiểm soát, chủ động ứng cứu và bảo vệ dữ liệu theo đặc thù pháp lý, hạ tầng của Việt Nam. Vì vậy, việc phát triển và ưu tiên sử dụng các giải pháp an ninh mạng nội địa không chỉ nhằm giảm phụ thuộc công nghệ, mà còn góp phần hình thành năng lực phòng thủ nội sinh, một điều kiện quan trọng để thị trường dữ liệu vận hành an toàn và bền vững.
Bên cạnh hoàn thiện thể chế và bảo đảm an toàn dữ liệu, nhiều chuyên gia cho rằng việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu với sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ, các trường đại học và tổ chức nghiên cứu sẽ là điều kiện quan trọng để kinh tế dữ liệu phát triển bền vững.
Hệ sinh thái nhân lực cho kinh tế dữ liệu
Theo các chuyên gia, việc bảo vệ và khai thác dữ liệu không chỉ là bài toán kỹ thuật mà còn liên quan đến năng lực quản trị, quy trình vận hành và nguồn nhân lực chuyên môn. Vì vậy, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu cần cách tiếp cận tổng thể, kết hợp giữa công nghệ, thể chế và con người.
Giới thiệu công cụ chuyển đổi số để quản trị nguồn lực, nhân sự tại lễ phát động Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động và tháng công nhân năm 2026.
Giới thiệu công cụ chuyển đổi số để quản trị nguồn lực, nhân sự tại lễ phát động Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động và tháng công nhân năm 2026.
Chánh Văn phòng Hiệp hội Dữ liệu quốc gia Nguyễn Ngọc Dung cho rằng, hệ sinh thái dữ liệu chỉ có thể phát triển khi có sandbox pháp lý cho startup thử nghiệm, sàn giao dịch dữ liệu minh bạch, chuẩn dữ liệu mở để doanh nghiệp khai thác và cơ chế chia sẻ dữ liệu công phục vụ đổi mới sáng tạo. “Nếu thiếu một lớp nền thể chế ổn định, startup sẽ khó phát triển sản phẩm quy mô lớn, và nếu thị trường dữ liệu thiếu minh bạch, doanh nghiệp cũng sẽ không dám đầu tư dài hạn”, bà Nguyễn Ngọc Dung nhấn mạnh.
Để thị trường dữ liệu vận hành hiệu quả, đánh giá của các chuyên gia nhấn mạnh việc cần đồng thời phát triển ba trụ cột: dữ liệu mở có kiểm soát, hạ tầng tính toán dữ liệu và thể chế khuyến khích đổi mới sáng tạo. Trong đó, Luật Dữ liệu đã thiết kế sàn dữ liệu như một môi trường giao dịch và chia sẻ tài nguyên dữ liệu; Luật Viễn thông đưa dịch vụ trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây vào phạm vi điều chỉnh, tạo nền tảng cho năng lực tính toán phục vụ AI và các ngành công nghiệp dữ liệu mới.
Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu theo ngành, thúc đẩy các sàn giao dịch dữ liệu và thiết lập cơ chế định giá minh bạch được xem là bước đi quan trọng để hình thành thị trường dữ liệu.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Trần Văn Khải đề xuất thúc đẩy ba cơ chế chính sách quan trọng, gồm cơ chế “đặt hàng - đồng tài trợ - đồng sở hữu kết quả” cho các bộ dữ liệu dùng chung và các mô hình AI theo ngành; cơ chế sandbox cho sản phẩm dữ liệu và AI, đặt trong khuôn khổ bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh dữ liệu cùng cơ chế phát triển doanh nghiệp dữ liệu, bao gồm các tổ chức trung gian dữ liệu và dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu.
Ở cấp địa phương, Hà Nội đang thử nghiệm mô hình “nhà nước định hướng - doanh nghiệp vận hành” trong khai thác dữ liệu và xây dựng sandbox cho các mô hình kinh doanh dữ liệu mới. Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang thúc đẩy chiến lược phát triển dữ liệu số giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2035, xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược và động lực của Chính quyền số, Kinh tế số và Xã hội số. Trong khung kiến trúc số của thành phố, dữ liệu và các nền tảng lõi được đặt ở trung tâm của hệ sinh thái số, cho phép chuẩn hóa, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp.
Theo Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, sự phát triển của thị trường dữ liệu không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn vào hệ sinh thái nhân lực gồm doanh nghiệp công nghệ, các trường đại học và các tổ chức trung gian dữ liệu. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thiếu đội ngũ chuyên gia có khả năng xử lý và khai thác dữ liệu lớn, trong khi nhu cầu kỹ sư dữ liệu, chuyên gia AI và phân tích dữ liệu đang tăng nhanh trong nhiều lĩnh vực như tài chính số, thương mại điện tử và logistics.
Theo thống kê, Việt Nam hiện có khoảng 1,5 triệu lao động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ số; 168 trường đại học và hơn 500 cơ sở đào tạo liên quan, mỗi năm cung cấp khoảng 84 nghìn nhân lực mới cho thị trường.
Tuy nhiên, so với nhu cầu của kinh tế dữ liệu, nguồn nhân lực này vẫn thiếu cả về số lượng và chất lượng khi chỉ khoảng 30% sinh viên tốt nghiệp đáp ứng ngay yêu cầu doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp công nghệ cho rằng bài toán nhân lực công nghệ số không thể giải quyết chỉ bằng đào tạo lý thuyết mà cần gắn với các dự án công nghệ thực tiễn.
Ông Cao Thanh Hà, Giám đốc Công nghệ VNPT AI cho biết, đơn vị đã xây dựng đội ngũ hơn 200 kỹ sư AI thông qua mô hình “trưởng thành qua dự án thực tiễn”, trong đó các kỹ sư trẻ được tham gia trực tiếp vào các bài toán công nghệ phục vụ hàng triệu người dùng, từ xử lý ngôn ngữ tự nhiên, nhận diện hình ảnh đến phân tích dữ liệu lớn. Đến nay, hệ sinh thái VNPT AI đã phát triển hơn 100 mô hình AI, triển khai cho hơn 200 tổ chức và doanh nghiệp.
Ứng dụng công nghệ của VNPT AI.
Ứng dụng công nghệ của VNPT AI.
Bên cạnh đó, nhiều mô hình hợp tác “ba nhà” giữa Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp cũng đang được thúc đẩy nhằm hình thành nguồn nhân lực dữ liệu chất lượng cao. Doanh nghiệp không chỉ đặt hàng đào tạo mà còn cùng các trường đại học thiết kế chương trình đào tạo và đưa các dự án công nghệ thực tế vào giảng dạy, giúp sinh viên tiếp cận các bài toán AI và dữ liệu ngay từ khi còn trên ghế nhà trường.
Song song với các tập đoàn công nghệ lớn, nhiều startup Việt Nam cũng đang khai thác dữ liệu để phát triển các sản phẩm công nghệ mới. Chẳng hạn, Công ty Lê Dương phát triển các giải pháp giám sát và điều khiển tự động dựa trên nền tảng IoT, từ đó tạo ra dữ liệu có độ tin tưởng cao và tiến tới áp dụng AI để xây dựng các hệ thống điều khiển, giám sát vận hành thông minh trong công nghiệp.
Ông Lê Đình Tuyến, Giám đốc Công ty Lê Dương chia sẻ, yếu tố then chốt của các hệ thống này là đội ngũ kỹ sư có khả năng kết hợp giữa phần cứng và phần mềm, giữa dữ liệu, mạng kết nối và mô hình xử lý. Tuy nhiên, nhiều startup vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và giữ chân nhân lực công nghệ khi phải cạnh tranh với các tập đoàn lớn.
Hợp tác giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo đang trở thành hướng đi quan trọng để hình thành nguồn nhân lực dữ liệu chất lượng cao. Việc phát triển nguồn nhân lực dữ liệu và AI cần gắn chặt với hệ sinh thái doanh nghiệp và các dự án công nghệ thực tiễn.
Giáo sư, Tiến sĩ Từ Minh Phương, Bí thư Đảng ủy Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cho biết: “Hiện Học viện đang hợp tác với một số doanh nghiệp để xây dựng mô hình ngôn ngữ lớn DeepEdu phục vụ các ứng dụng AI phục vụ đào tạo, trong đó giảng viên và sinh viên trực tiếp tham gia lựa chọn mô hình và xây dựng dữ liệu huấn luyện”.
Trong giờ giảng dạy, thực hành về ứng dụng AI.
Trong giờ giảng dạy, thực hành về ứng dụng AI.
Song song với đó, để có nguồn nhân lực chất lượng cao về dữ liệu và AI, Học viện đang đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu và đào tạo với nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn như VinAI (nay thuộc Qualcomm), FPT, Viettel, Samsung, đồng thời liên kết với Đại học Công nghệ Sydney thành lập Trung tâm Công nghệ chiến lược Úc - Việt Nam, trong đó công nghệ dữ liệu và AI chiếm tỷ trọng lớn.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Từ Minh Phương, các chương trình đào tạo của Học viện hiện bao phủ toàn bộ chuỗi công nghệ dữ liệu, từ thu thập, lưu trữ, an toàn, truyền dữ liệu tới phân tích dữ liệu, phát triển, triển khai mô hình AI trong thực tế. Nhà trường cũng thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp nhằm hỗ trợ giảng viên, sinh viên thương mại hóa sản phẩm, rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường.
Các nhóm nghiên cứu và phòng thí nghiệm chuyên sâu đạt chuẩn khu vực tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.
Các nhóm nghiên cứu và phòng thí nghiệm chuyên sâu đạt chuẩn khu vực tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.
Nguồn nhân lực dữ liệu vì vậy không chỉ là câu chuyện của các trường đại học hay doanh nghiệp riêng lẻ mà là nền tảng của toàn bộ hệ sinh thái kinh tế dữ liệu. Với việc đào tạo gắn với nhu cầu thị trường và các dự án công nghệ thực tiễn, dữ liệu sẽ được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới. Sự trưởng thành của các doanh nghiệp khai thác dữ liệu sẽ quyết định việc hình thành thị trường dữ liệu và mở ra động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế số.
Ngày xuất bản: 25/04/2026
Chỉ đạo: Đinh Song Linh
Tổ chức sản xuất: Doãn Trà My
Nội dung và trình bày: Doãn Trà My - Vũ Quỳnh Trang - Trần Duy Long
Ảnh: Nguyễn Trung Hiếu, Hiệp hội Dữ liệu quốc gia, Hiệp hội An ninh mạng quốc gia, Báo Chính phủ, Viettel IDC.
