Khả năng nhận biết tin giả của ChatGPT và các mô hình ngôn ngữ lớn

Mới đây, một nhà khoa học tại Đại học Wisconsin-Stout (Mỹ) đã thực hiện một nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng nhận biết tin giả của các các mô hình ngôn ngữ lớn phổ biến trên thế giới hiện nay. Những phát hiện của ông cung cấp cái nhìn sâu sắc có giá trị, góp phần vào triển vọng sử dụng các mô hình tinh tế này để đối phó với vấn nạn tin giả, tin thất thiệt trong tương lai.
Theo kết quả nghiên cứu, mô hình GPT-4.0 của OpenAI vượt trội các mô hình khác trong thực hiện nhiệm vụ kiểm chứng thông tin. (Ảnh minh họa: Getty Images)
Theo kết quả nghiên cứu, mô hình GPT-4.0 của OpenAI vượt trội các mô hình khác trong thực hiện nhiệm vụ kiểm chứng thông tin. (Ảnh minh họa: Getty Images)

Mô hình ngôn ngữ lớn (LLMs) là sự phát triển của các kỹ thuật xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) có thể nhanh chóng tạo ra những đoạn văn bản gần giống với văn bản do con người viết và hoàn thành một số tác vụ đơn giản khác liên quan đến ngôn ngữ.

Những mô hình này ngày càng trở nên phổ biến sau màn ra mắt bùng nổ của ứng dụng chatbot Chat GPT, một LLM hiệu suất cao do công ty khởi nghiệp OpenAI phát triển.

Cho đến nay, các nghiên cứu về LLMs chủ yếu tập trung vào đánh giá khả năng của chúng trong việc tạo văn bản, giải thích các thuật ngữ, viết luận hay tạo code máy tính. Tuy nhiên, những mô hình này còn có thể giúp con người giải quyết nhiều vấn đề khác trong thế giới thực, bao gồm phát hiện tin tức giả mạo và thông tin sai lệch.

Kevin Matthe Caramancion, một nhà khoa học tại Đại học Wisconsin-Stout (Mỹ) gần đây đã thực hiện một nghiên cứu nhằm xem xét khả năng nhận biết tin giả của các LLM phổ biến trên thế giới hiện nay. Những phát hiện của ông cung cấp cái nhìn sâu sắc có giá trị, góp phần vào việc sử dụng các mô hình tinh tế này để đối phó với vấn nạn tin giả, tin thất thiệt trong tương lai.

Chia sẻ với Tech Xplore, ông Caramancion cho biết: “Mục đích của nghiên cứu là đánh giá kỹ lưỡng tính hiệu quả của các LLM trong việc phân biệt tin thật với tin giả, sử dụng một trình mô phỏng có kiểm soát và dựa trên tiêu chuẩn là các cơ quan chuyên về kiểm chứng thông tin”.

Theo đó, nhóm nghiên cứu kiểm tra hiệu suất của các mô hình này bằng cách sử dụng bộ thử nghiệm gồm 100 đầu mục tin tức đã được kiểm chứng bởi các tổ chức kiểm chứng độc lập.

“Chúng tôi đưa từng đầu mục tin tức vào các LLM trong điều kiện được kiểm soát, phân loại những phản hồi thành một trong ba loại: Đúng, Sai và Đúng/Sai một phần. Hiệu quả của các mô hình được đo lường dựa trên mức độ chính xác mà chúng phân loại các đầu mục tin tức so với thông tin thực tế đã được xác minh do các cơ quan kiểm chứng độc lập cung cấp”, ông Caramancion cho hay.

Thông tin sai lệch đã trở thành một thách thức lớn trong những thập kỷ gần đây, khi internet và mạng xã hội khiến thông tin được lan truyền một cách nhanh chóng, bất kể thông tin đó là đúng hay sai. Do đó, nhiều nhà khoa học máy tính đã cố gắng tạo ra các công cụ và nền tảng kiểm chứng tốt hơn, cho phép người dùng kiểm tra tính xác thực của tin tức mà họ đọc trực tuyến.

Mặc dù cho đến nay đã có nhiều công cụ kiểm chứng thông tin được tạo ra và thử nghiệm, nhưng vẫn còn thiếu một mô hình đáng tin cậy và có thể áp dụng rộng rãi để chống lại việc đưa thông tin thất thiệt. Là một phần trong nghiên cứu của mình, ông Caramancion bắt đầu xác định xem liệu các LLM hiện có có thể giải quyết vấn đề toàn cầu này một cách hiệu quả hay không.

Nhà nghiên cứu thuộc Đại học Wisconsin-Stout đánh giá cụ thể hiệu suất của 4 LLM gồm: Chat GPT-3.0 và Chat GPT-4.0 của OpenAI, Bard/LaMDA của Google, và Bing AI của Microsoft. Ông cung cấp cho các mô hình này những mẩu tin tức giống nhau đã được kiểm chứng, sau đó so sánh khả năng phân loại Đúng, Sai hay Đúng/Sai một phần của 4 LLM nói trên.

Theo kết quả thu được, mô hình GPT-4.0 của OpenAI vượt trội so với các mô hình khác về thực hiện các nhiệm vụ kiểm chứng, điều này cho thấy sự tiến bộ trong các phiên bản LLM mới hơn. Tuy nhiên, tất cả các mô hình đều không đạt được hiệu quả như các cơ quan kiểm chứng, qua đó nhấn mạnh giá trị không thể thay thế của nhận thức con người.

“Những phát hiện này có thể thu hút sự quan tâm lớn hơn đối với việc phát triển các khả năng của trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực kiểm chứng thông tin trong khi vẫn bảo đảm sự tích hợp cân bằng, cộng sinh với các kỹ năng của con người”, ông Caramancion nói.

Có thể bạn quan tâm

Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng ký Biên bản ghi nhớ hợp tác triển khai sáng kiến trong giai đoạn khởi động.

Đà Nẵng: Khởi động sáng kiến Tech Circle thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ tại miền trung

Chiều 12/8, tại Đà Nẵng, Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng đã phối hợp khởi động sáng kiến Tech Circle thông qua chương trình Tech Circle #01. Đây là sáng kiến hướng tới việc tạo lập một không gian trao đổi thường xuyên, kết nối doanh nghiệp, chuyên gia, trường đại học, start-up và các tổ chức công nghệ.

Quang cảnh Hội thảo tại Hà Nội.

Xây dựng và phát triển các mạng lưới chuyên gia, trí thức trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược

Hội thảo là cơ hội để các bên cùng trao đổi, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các mạng lưới chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, hướng tới mục tiêu không chỉ kết nối nguồn lực mà còn tạo ra các dự án, sản phẩm và kết quả hợp tác cụ thể phục vụ phát triển đất nước.

Đại diện VNPT VinaPhone và VAEDR ký kết hợp tác. (Ảnh: Ban tổ chức)

VNPT VinaPhone và VAEDR hợp tác phát triển hệ sinh thái học liệu số

Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT VinaPhone) và Hiệp hội Sách Giáo dục và Học liệu điện tử Việt Nam (VAEDR) đã tổ chức Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác (MOU) về phát triển và kinh doanh hệ sinh thái học liệu số trên phạm vi toàn quốc, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia định hướng thảo luận tại hội thảo. (Ảnh: NDA)

Định danh dữ liệu địa điểm để kết nối các cơ sở dữ liệu

Dữ liệu địa điểm gắn với con người, doanh nghiệp, đất đai, tài sản và nhiều hoạt động kinh tế-xã hội. Việc chuẩn hóa, định danh thống nhất và tạo khả năng liên thông lớp dữ liệu này được xác định là một yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển dịch vụ số và khai thác giá trị của dữ liệu.

Các kỹ sư giám sát hệ thống sản xuất dựa trên AI trong một nhà máy (Ảnh ADOBE STOCK)

AI với khả năng thích ứng trên thị trường lao động

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tác động sâu sắc đến thị trường lao động toàn cầu. Quá trình chuyển đổi số cùng những thay đổi trong nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp thúc đẩy thị trường lao động chuyển dịch theo hướng linh hoạt hơn. 

Nhóm nghiên cứu của kỹ sư Lưu Xuân Bình thử nghiệm thiết bị đo đạc thể tích vật liệu trên xe tải.

Những sáng chế phục vụ cộng đồng

Từ quá trình nghiên cứu, phát triển thiết bị đo thể tích vật liệu trên xe tải, kỹ sư Lưu Xuân Bình đã phát triển thành công một mã định danh dạng mẫu hình hai chiều-một lựa chọn nữa để định danh đối tượng sau mã vạch và mã QR, với đặc điểm nổi bật là tăng được khoảng cách nhận diện. 

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Đại học Công nghệ Sydney-UTS, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia. (Ảnh: Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia cung cấp)

Mở ra giai đoạn hợp tác mới Việt Nam-Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia (VASEA) kỳ vọng, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ mở ra một giai đoạn hợp tác mới giữa Việt Nam và Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực.

Vùng trồng cây Actiso của Công ty Traphaco Sapa đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. (Ảnh: HOÀNG TIẾN)

“Đòn bẩy”cho công nghiệp dược liệu

Sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú cùng nền y học cổ truyền lâu đời, hiện nước ta có thể xây dựng một ngành công nghiệp dược liệu hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh quốc tế.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và chủ động tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. (Thiết kế: Mai Huyên)

Tạo bứt phá chiến lược, đưa Việt Nam làm chủ công nghệ cốt lõi, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu

Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược vừa được ban hành với những mục tiêu bứt phá: Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, hình thành ít nhất 20 doanh nghiệp nòng cốt; tạo tiền đề vững chắc để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Kiến trúc “vòm xanh” do kiến trúc sư An Việt Dũng thiết kế.

Kiến trúc cho đô thị xanh

Cửa thang máy tầng thượng tòa nhà 11 tầng trên phố Lê Duẩn (Hà Nội) vừa mở, đón chúng tôi không phải cái nắng chói chang buổi trưa mùa hạ mà là một không gian xanh mát. Cùng với bóng cây là hệ thống phun sương và gió trời khiến cảm giác ngột ngạt đô thị dường như biến mất.

UAV sử dụng trong tuyến giao hàng Cần Giờ-Vũng Tàu.

Nền móng vận hành kinh tế tầm thấp

Kinh tế tầm thấp mở ra một không gian phát triển mới, còn hạ tầng số chính là nền móng để không gian ấy vận hành hiệu quả. Làm chủ những hạ tầng này sẽ quyết định khả năng hình thành hệ sinh thái kinh tế tầm thấp và trở thành thước đo năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia trong các ngành công nghệ chiến lược của tương lai.