Giảm phát thải khí mê-tan từ chất thải

Năm 2025, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở Việt Nam vào khoảng 70 nghìn tấn mỗi ngày, chủ yếu từ khu vực đô thị. Bức tranh chất thải cho thấy rác sinh hoạt có thành phần rất đa dạng nhưng rác thải thực phẩm chiếm tỷ lệ lớn nhất, phần còn lại là các nhóm có thể tái chế, chất thải nguy hại và các loại khác.

Năm 2025, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở Việt Nam vào khoảng 70 nghìn tấn mỗi ngày, chủ yếu từ khu vực đô thị. Ảnh minh họa.
Năm 2025, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở Việt Nam vào khoảng 70 nghìn tấn mỗi ngày, chủ yếu từ khu vực đô thị. Ảnh minh họa.

Không chỉ rác sinh hoạt, dòng thải từ sản xuất và dịch vụ cũng tạo áp lực lớn. Các khu công nghiệp ước phát sinh khoảng 4,2 triệu tấn chất thải rắn mỗi năm, trong đó có khoảng 550.000 tấn chất thải nguy hại. Ở lĩnh vực y tế, tổng lượng chất thải phát sinh khoảng 400 đến 600 tấn mỗi ngày; tỷ lệ chất thải y tế nguy hại chiếm khoảng 20 đến 25%, dù khối lượng không lớn so với rác sinh hoạt hay công nghiệp nhưng mức độ rủi ro cao và đòi hỏi quy trình xử lý nghiêm ngặt. Ở nông nghiệp, lượng rơm rạ, vỏ trấu, chất thải chăn nuôi phát sinh rộng khắp; nếu không xử lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm đất, nước, không khí và kéo theo phát thải khí nhà kính.

Tiến sĩ Lương Quang Huy, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, khí mê-tan chủ yếu hình thành từ quá trình phân hủy yếm khí, là quá trình phân hủy trong điều kiện thiếu oxy của các chất hữu cơ. Trước hết là chất thải rắn sinh hoạt, nguồn phát thải lớn nhất khi còn phụ thuộc nhiều vào chôn lấp. Do rác chưa được phân loại tại nguồn, phần hữu cơ như thức ăn thừa, rau củ quả bị trộn lẫn và chôn chung với các loại rác khác, phân hủy trong môi trường yếm khí và phát sinh lượng lớn khí mê-tan.

Bên cạnh đó, nước thải cũng là một nguồn phát thải khác cùng hệ thống xử lý thiếu kiểm soát dễ tạo điều kiện phát tán khí mê-tan, nhất là với nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý và nước thải giàu hữu cơ từ chế biến thực phẩm, nông nghiệp, nơi vi sinh vật kỵ khí hoạt động mạnh và sinh ra khí mê-tan. Điều này lý giải vì sao mọi lộ trình giảm khí mê-tan đều phải bắt đầu từ việc thay đổi cách xử lý rác hữu cơ và nâng cấp hệ thống thu gom, xử lý nước thải.

Kế hoạch giảm phát thải khí mê-tan trong lĩnh vực chất thải đến năm 2030 có mục tiêu giảm 10% lượng rác sinh hoạt phát sinh bình quân đầu người thông qua giảm thiểu và phân loại tại nguồn; nâng tỷ lệ tái chế lên 35% đối với các nhóm có thể tái chế như giấy, bìa cứng, thủy tinh, kim loại; xử lý 32% rác thực phẩm thành phân compost; đốt hoặc đốt phát điện 9% rác dễ cháy có nhiệt trị cao như dệt may, nhựa, cao su, gỗ; đồng thời đưa 30% lượng rác chôn lấp vào quy trình chôn lấp hợp vệ sinh có thu hồi khí mê-tan. Tổng mức giảm khí mê-tan do quốc gia tự thực hiện đến năm 2030 ước đạt 7,28 triệu tấn CO2 tương đương.

Tuy vậy, việc giảm phát thải khí mê-tan trong lĩnh vực chất thải đang gặp một số khó khăn. Trước hết là khoảng trống về dữ liệu, khi chưa có đủ số liệu đáng tin cậy về nguồn, hệ số phát thải và các số liệu hoạt động làm căn cứ kiểm kê, theo dõi, đánh giá hiệu quả giảm phát thải. Cùng với đó, nguồn lực tài chính còn hạn hẹp, việc huy động vốn từ khu vực tư nhân và quốc tế chưa tương xứng với nhu cầu đầu tư hạ tầng và công nghệ. Bên cạnh đó, năng lực quản lý, chuyên môn và nhận thức của một bộ phận cán bộ, doanh nghiệp và cộng đồng về giảm phát thải khí mê-tan còn chưa đáp ứng yêu cầu.

Để giảm phát thải khí mê-tan một cách bền vững, trọng tâm trước hết là siết chặt phân loại tại nguồn. Khi việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt trở thành yêu cầu bắt buộc, rác hữu cơ sẽ được tách riêng, qua đó giảm đáng kể lượng rác phải đưa đi chôn lấp và cắt ngay điều kiện hình thành khí mê-tan từ gốc. Theo các chuyên gia môi trường, cần đẩy mạnh xử lý phần hữu cơ bằng các giải pháp phù hợp như ủ compost và ứng dụng công nghệ khí sinh học, vừa chuyển hóa rác hữu cơ thành phân bón, vừa tận dụng làm năng lượng.

Song hành với xử lý hữu cơ là lộ trình hạn chế chôn lấp, giảm dần tỷ lệ xử lý bằng chôn lấp và thay thế bằng các công nghệ tiên tiến hơn, trong đó có đốt rác phát điện. Với các bãi chôn lấp đang tồn tại, yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát chặt phát thải bằng cách lắp đặt hệ thống thu hồi khí, thu gom và xử lý khí mê-tan phát sinh, biến nguồn phát thải thành nguồn năng lượng sạch.

Có thể bạn quan tâm

Hoạt động nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc, Hóa dầu (Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam).

Đầu tư hạ tầng nghiên cứu cho công nghệ chiến lược

Phát triển hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là một trong những giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW. Thực trạng lạc hậu về công nghệ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại hạ tầng nghiên cứu theo hướng tập trung, đồng bộ và hiệu quả.

Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Đà Nẵng đấu tranh tội phạm trên không gian mạng. (Ảnh: Công Vinh)

Nâng cao ý thức làm chủ, bảo vệ không gian mạng

Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục khẳng định chủ trương của Đảng về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, khi nhấn mạnh yêu cầu: Tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng...

UAV được thử nghiệm phun thuốc cho cây cà-phê tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Cơ chế sandbox đã sang giai đoạn triển khai thực tế

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, bên cạnh chuẩn bị cấp phép mô hình thử nghiệm có kiểm soát đầu tiên về phát triển kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái (UAV) tại tỉnh Điện Biên, một số địa phương, doanh nghiệp cũng bày tỏ quan tâm đến việc triển khai thử nghiệm mô hình sandbox.

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế tri thức. Những năm qua, Việt Nam đã chủ động hoàn thiện thể chế, từng bước xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ tương thích với chuẩn mực quốc tế và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 được thông qua cho thấy những vấn đề pháp lý sở hữu trí tuệ đã được điều chỉnh gần và sát thực tiễn hiện nay. Trong đó, việc định giá tài sản sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm đang là nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận, nhất là với giới khởi nghiệp liên quan đổi mới sáng tạo.

Các sản phẩm của Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ dược liệu Yên Sơn (thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) tăng mạnh về số lượng bán ra thị trường nhờ thực hiện truy xuất nguồn gốc. (Ảnh: Hà An)

Hạ tầng số nông nghiệp và môi trường

Việc nhanh chóng xây dựng hạ tầng số cho ngành nông nghiệp và môi trường không chỉ để đáp ứng các điều kiện cần của thị trường mà còn là cơ sở cho quá trình chuẩn hóa kỹ thuật, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.