Giảm khí mê-tan từ than, dầu khí làm chậm đà nóng lên toàn cầu

Việc cắt giảm phát thải khí mê-tan được coi là giải pháp nhanh, hiệu quả để kéo chậm đà nóng lên toàn cầu. Trong đó, khai thác than và khai thác, chế biến dầu khí là những lĩnh vực phát thải lớn, đồng thời cũng chứa đựng tiềm năng giảm phát thải đáng kể nếu có cách tiếp cận bài bản, khoa học.

Việc đầu tư thiết bị khai thác hầm lò hiện đại, đồng bộ của Công ty Than Vàng Danh đã góp phần giảm tác động môi trường từ việc khai thác than. (Ảnh: QUANG THỌ)
Việc đầu tư thiết bị khai thác hầm lò hiện đại, đồng bộ của Công ty Than Vàng Danh đã góp phần giảm tác động môi trường từ việc khai thác than. (Ảnh: QUANG THỌ)

Theo kết quả kiểm kê năm cơ sở 2020, lượng phát thải khí mê-tan ngành than là 3.458 GgCO2, phần lớn từ khai thác và sau khai thác than hầm lò. Do vậy, ở lĩnh vực than, có hai hướng để giảm phát thải là nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong toàn chuỗi khai thác, chế biến và thu hồi, sử dụng khí mê-tan phát sinh trong, sau khai thác. Ở hầm lò, hiện các mỏ đang từng bước cơ giới hóa, hiện đại hóa, áp dụng dàn chống tự hành, máy đào lò, băng tải thay thế vận tải thủ công; lắp biến tần, khởi động mềm cho các thiết bị tiêu thụ nhiều điện, thay đèn sợi đốt bằng đèn LED, xây dựng hệ thống giám sát tự động điện năng. Chỉ riêng các giải pháp tiết kiệm năng lượng này sẽ giúp giảm từ 15-20% điện tiêu thụ mỗi năm ở nhiều đơn vị, qua đó giảm một phần phát thải khí mê-tan liên quan.

Tuy nhiên, phần “dư địa” lớn hơn nằm ở công nghệ tháo khí. Thay vì để khí mê-tan phát tán tự nhiên theo gió thải mỏ, cần nghiên cứu một tổ hợp giải pháp: Khoan tháo khí trước khi khai thác, khoan tháo khí trong và sau khai thác, thu hồi khí mê-tan trong dòng gió thải kết hợp công nghệ ô-xi hóa nhiệt tái sinh hoặc đồng phát điện.

Đối với khai thác lộ thiên, phần phát thải khí mê-tan thấp hơn nhưng vẫn có thể cắt giảm thông qua cải tiến sơ đồ khoan-nổ mìn, lựa chọn thiết bị xúc bốc, vận tải hợp lý, tiết kiệm điện cho hệ thống bơm thoát nước, sàng tuyển, chiếu sáng, đồng thời đẩy nhanh phục hồi môi trường, phủ xanh bãi thải, moong khai thác. Việc giảm dần sản lượng khai thác lộ thiên cũng góp phần kéo lượng phát thải từ phân khúc này đi xuống rõ rệt.

Nếu đồng bộ áp dụng các giải pháp từ tiết kiệm năng lượng tới khoan tháo khí ở các mỏ mới, mỏ cải tạo mở rộng, cũng như hệ thống tháo khí trong khai thác tại các vùng mỏ ngành than có thể cắt giảm khoảng 2.836 GgCO2tđ vào năm 2030. Con số này tương đương gần 59% lượng phát thải so với kịch bản phát triển thông thường và khoảng 42,5% so với mức năm 2020. Để đạt được kết quả đó, cần triển khai thí điểm rồi nhân rộng các dự án khoan tháo khí trước và trong khai thác tại những mỏ có điều kiện địa chất phù hợp; giai đoạn sau năm 2030 tiếp tục nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới.

Khác với than, phát thải khí mê-tan trong ngành dầu khí phân tán dọc toàn chuỗi giá trị, từ khai thác, thu gom, xử lý ngoài khơi đến vận chuyển bằng đường ống, bồn chứa, chế biến trong bờ và phân phối tới khách hàng. Trong sơ đồ đó cho thấy khí có thể thoát ra ở rất nhiều “mắt xích”: Van, mặt bích, bồn chứa, đuốc đốt, thiết bị điều khiển khí nén, máy nén, phớt bơm, quá trình xả khí khi bảo dưỡng…

Nguồn phát thải lớn nhất được xác định là hoạt động xả khí có chủ đích, (venting), tiếp đến là rò rỉ và đốt khí (flaring) để giảm áp đường ống. Để xử lý, cần nghiên cứu lộ trình xây dựng và triển khai đầy đủ chương trình phát hiện-sửa chữa rò rỉ (LDAR), gắn với định lượng lượng khí rò để có cơ sở tính toán giảm nhẹ và xây dựng phương án đầu tư. Các giải pháp kỹ thuật được đưa ra là lắp đặt cụm thu hồi hơi tại các bồn, bể chứa nhằm giảm tới 95% lượng hơi hydrocacbon thất thoát; thay thế thiết bị điều khiển khí nén bằng khí công cụ hoặc điện; chuyển đổi phớt ướt sang phớt khô ở máy nén ly tâm; áp dụng kỹ thuật “hoàn thiện giếng xanh” để giảm xả khí khi hoàn thiện giếng; thu gom khí xả đưa trở lại hệ thống áp suất thấp hoặc nén lại để sử dụng, thay vì xả thẳng ra môi trường.

Các giải pháp tiết kiệm năng lượng và tối ưu vận hành như thu hồi nhiệt thải để gia nhiệt dòng khác, nâng cấp thiết bị tiêu thụ điện, hơi nước, tối ưu quá trình tái sinh, kiểm soát chặt hoạt động đốt cũng được coi là “đòn bẩy” kép: Vừa giảm tiêu hao nhiên liệu hóa thạch, vừa kéo theo giảm phát thải khí mê-tan.

Theo tính toán, nếu thực hiện đồng bộ LDAR, cùng nâng cấp công nghệ, ngành dầu khí có thể giảm khoảng 3.169 CO2tđ vào năm 2030, tương ứng với 30% lượng phát thải so với năm 2020 và khoảng 22% so với tổng phát thải dự báo năm 2030. Theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) cho thấy, với công nghệ hiện có, thế giới hoàn toàn có thể cắt giảm khoảng 70% lượng khí mê-tan phát thải từ hoạt động sử dụng nhiên liệu hóa thạch, điều đó cho thấy đây không phải là “bài toán bất khả thi”, mà phụ thuộc rất lớn vào quyết tâm chính sách và cơ chế thực thi.

Một điểm đáng chú ý là các giải pháp giảm phát thải khí mê-tan, nhất là trong dầu khí, đều đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu khá lớn, từ hệ thống thu hồi hơi (VRU), LDAR, thiết bị đo đếm tới cải hoán công nghệ. Do đó, cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về thị trường các-bon, xây dựng cơ chế ghi nhận tín chỉ các-bon cho các dự án giảm phát thải mê-tan đủ điều kiện, tạo thêm dòng doanh thu bù đắp chi phí.

Đồng thời, cần tích hợp mục tiêu giảm phát thải khí mê-tan vào chiến lược, quy hoạch ngành than, dầu khí, kế hoạch tăng trưởng xanh các địa phương có mỏ, gắn với các quy định hạn chế đốt và xả khí, tiêu chuẩn kỹ thuật về thiết bị, quy trình vận hành an toàn. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước chủ lực trong hai lĩnh vực này là rất quan trọng, bởi hai đơn vị vừa là chủ đầu tư, vừa là đơn vị “thử nghiệm” cho các công nghệ mới, mô hình tài chính xanh mới.

Có thể bạn quan tâm

Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng ký Biên bản ghi nhớ hợp tác triển khai sáng kiến trong giai đoạn khởi động.

Đà Nẵng: Khởi động sáng kiến Tech Circle thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ tại miền trung

Chiều 12/8, tại Đà Nẵng, Techpro Corp., SongHan Incubator, Hội Tự động hóa Đà Nẵng đã phối hợp khởi động sáng kiến Tech Circle thông qua chương trình Tech Circle #01. Đây là sáng kiến hướng tới việc tạo lập một không gian trao đổi thường xuyên, kết nối doanh nghiệp, chuyên gia, trường đại học, start-up và các tổ chức công nghệ.

Quang cảnh Hội thảo tại Hà Nội.

Xây dựng và phát triển các mạng lưới chuyên gia, trí thức trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược

Hội thảo là cơ hội để các bên cùng trao đổi, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các mạng lưới chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài, hướng tới mục tiêu không chỉ kết nối nguồn lực mà còn tạo ra các dự án, sản phẩm và kết quả hợp tác cụ thể phục vụ phát triển đất nước.

Đại diện VNPT VinaPhone và VAEDR ký kết hợp tác. (Ảnh: Ban tổ chức)

VNPT VinaPhone và VAEDR hợp tác phát triển hệ sinh thái học liệu số

Tổng Công ty Dịch vụ Viễn thông (VNPT VinaPhone) và Hiệp hội Sách Giáo dục và Học liệu điện tử Việt Nam (VAEDR) đã tổ chức Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác (MOU) về phát triển và kinh doanh hệ sinh thái học liệu số trên phạm vi toàn quốc, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Cương, Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dữ liệu quốc gia định hướng thảo luận tại hội thảo. (Ảnh: NDA)

Định danh dữ liệu địa điểm để kết nối các cơ sở dữ liệu

Dữ liệu địa điểm gắn với con người, doanh nghiệp, đất đai, tài sản và nhiều hoạt động kinh tế-xã hội. Việc chuẩn hóa, định danh thống nhất và tạo khả năng liên thông lớp dữ liệu này được xác định là một yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển dịch vụ số và khai thác giá trị của dữ liệu.

Các kỹ sư giám sát hệ thống sản xuất dựa trên AI trong một nhà máy (Ảnh ADOBE STOCK)

AI với khả năng thích ứng trên thị trường lao động

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) đang tác động sâu sắc đến thị trường lao động toàn cầu. Quá trình chuyển đổi số cùng những thay đổi trong nhu cầu của người lao động và doanh nghiệp thúc đẩy thị trường lao động chuyển dịch theo hướng linh hoạt hơn. 

Nhóm nghiên cứu của kỹ sư Lưu Xuân Bình thử nghiệm thiết bị đo đạc thể tích vật liệu trên xe tải.

Những sáng chế phục vụ cộng đồng

Từ quá trình nghiên cứu, phát triển thiết bị đo thể tích vật liệu trên xe tải, kỹ sư Lưu Xuân Bình đã phát triển thành công một mã định danh dạng mẫu hình hai chiều-một lựa chọn nữa để định danh đối tượng sau mã vạch và mã QR, với đặc điểm nổi bật là tăng được khoảng cách nhận diện. 

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Đại học Công nghệ Sydney-UTS, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia. (Ảnh: Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia cung cấp)

Mở ra giai đoạn hợp tác mới Việt Nam-Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực

Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Đức Long, Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam-Australia (VASEA) kỳ vọng, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ mở ra một giai đoạn hợp tác mới giữa Việt Nam và Australia, đặc biệt trong khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực.

Vùng trồng cây Actiso của Công ty Traphaco Sapa đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. (Ảnh: HOÀNG TIẾN)

“Đòn bẩy”cho công nghiệp dược liệu

Sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú cùng nền y học cổ truyền lâu đời, hiện nước ta có thể xây dựng một ngành công nghiệp dược liệu hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh quốc tế.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ chiến lược, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và chủ động tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. (Thiết kế: Mai Huyên)

Tạo bứt phá chiến lược, đưa Việt Nam làm chủ công nghệ cốt lõi, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu

Chương trình quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược vừa được ban hành với những mục tiêu bứt phá: Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, hình thành ít nhất 20 doanh nghiệp nòng cốt; tạo tiền đề vững chắc để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.

Kiến trúc “vòm xanh” do kiến trúc sư An Việt Dũng thiết kế.

Kiến trúc cho đô thị xanh

Cửa thang máy tầng thượng tòa nhà 11 tầng trên phố Lê Duẩn (Hà Nội) vừa mở, đón chúng tôi không phải cái nắng chói chang buổi trưa mùa hạ mà là một không gian xanh mát. Cùng với bóng cây là hệ thống phun sương và gió trời khiến cảm giác ngột ngạt đô thị dường như biến mất.