PGS,TS Ngô Trí Long cho hay, nguyên nhân dẫn đến sự mất niềm tin hoặc tranh chấp thời gian qua về bảo hiểm nhân thọ đều xuất phát từ “khoảng cách kỳ vọng”, giữa điều khách hàng nghĩ mình sẽ nhận được và các điều khoản pháp lý thực tế quy định trong hợp đồng.
Trong khi đó, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ mang tính chất dài hạn và kỹ thuật cao. Nếu khách hàng tham gia dựa trên thông tin chưa đầy đủ hoặc nghe tư vấn không rõ ràng (nhất là việc hiểu sai bảng minh họa quyền lợi thành cam kết lợi nhuận), khi xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc thanh lý hợp đồng sẽ phát sinh thất vọng.
Bảo hiểm nhân thọ là một lời hứa có thể kéo dài hàng chục năm
Theo chuyên gia Ngô Trí Long, người tiêu dùng cần hiểu thông tin theo ba tầng. Tầng thứ nhất là khoản nào chắc chắn được nhận. Tầng thứ hai là khoản nào chỉ mang tính dự tính và được xây dựng dựa trên những yếu tố giả định nào. Tầng thứ ba là trong trường hợp tình hình diễn biến xấu hơn thì quyền lợi của khách hàng sẽ thay đổi ra sao.
“Nếu người mua bảo hiểm nhân thọ không phân biệt được giữa bảng minh họa quyền lợi mang tính kỳ vọng, dự báo với số tiền thực tế có thể nhận được thì rất dễ dẫn đến hiểu lầm. Khi đó, người ta có thể cho rằng doanh nghiệp bảo hiểm đã đưa ra những lời hứa không thực tế. Vì vậy, khách hàng cần hiểu rõ bản chất của từng con số trước khi quyết định tham gia bảo hiểm”, chuyên gia Ngô Trí Long khuyến cáo.
Chuyên gia Ngô Trí Long cũng khuyến nghị cho người tham gia bảo hiểm, cần đọc kỹ hợp đồng, nhất là các điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, phạm vi bảo vệ và các mốc thời gian (như thời gian cân nhắc 21 ngày); khai báo thông tin trung thực (nhất là tình trạng sức khỏe ban đầu) để tránh nguy cơ hợp đồng bị vô hiệu hoặc từ chối chi trả sau này; lựa chọn mức phí đóng phù hợp với năng lực tài chính dài hạn của bản thân và gia đình, tránh việc hủy hợp đồng giữa chừng gây thiệt hại tài chính.
Đồng quan điểm với PGS,TS Ngô Trí Long về bản chất sản phẩm và nguyên nhân gây ra khoảng cách kỳ vọng của khách hàng, đại diện Prudential Việt Nam nhấn mạnh các định hướng và hành động thực tế từ phía doanh nghiệp: tập trung vào giá trị cốt lõi - Bảo vệ khách hàng. “Chúng tôi đồng tình rằng, bảo hiểm nhân thọ phải lấy sự bảo vệ làm trọng tâm. Mọi thông tin cung cấp cho khách hàng cần trung thực, minh bạch để khách hàng hiểu đúng bản chất trước khi xuống bút ký hợp đồng”, đại diện Prudential nói.
Song song với đó, doanh nghiệp tập trung nâng cao chất lượng tư vấn và đơn giản hóa thông tin. Trong đó, tăng cường đào tạo đội ngũ tư vấn viên/đại lý bảo hiểm, chuyển từ tư vấn theo xu hướng “chốt hợp đồng/đầu tư” sang tư vấn dựa trên nhu cầu bảo vệ thực tế và khả năng tài chính dài hạn của người dân. Chuẩn hóa và làm rõ nét bảng minh họa quyền lợi, phân định rõ ràng giữa phần quyền lợi bảo vệ cố định và phần đầu tư có biến động (không cam kết).
Đáng chú ý, bảo đảm minh bạch hóa quy trình và thực hiện cam kết trên cơ sở chủ động rà soát, tối ưu hóa quy trình giải quyết quyền lợi bảo hiểm (claim) để người dân cảm nhận được giá trị thật sự khi xảy ra sự kiện rủi ro. Phối hợp cùng cơ quan quản lý và truyền thông để phổ biến kiến thức tài chính-bảo hiểm cho cộng đồng, giúp thu hẹp khoảng cách nhận thức, củng cố niềm tin bền vững cho thị trường.
Hướng tới mục tiêu 18% dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ vào năm 2030
Nhìn nhận về thực tế hiện nay chỉ khoảng 11% dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ, trong khi mục tiêu Chính phủ đặt ra là 18% vào năm 2030 và đánh giá khả năng và mức độ sẵn sàng tham gia bảo hiểm nhân thọ của người dân Việt Nam, PGS,TS Ngô Trí Long cho rằng, bản chất của bảo hiểm là mua sự bảo vệ tài chính trước những rủi ro bất ngờ, do đó, chuyên gia khuyến nghị, những người có trách nhiệm tài chính lớn đối với gia đình (người trụ cột); người độc thân (không có người phụ thuộc nên mua bảo hiểm nhân thọ. Nhưng để người mua tin tưởng và quyết định tham gia, chuyên gia nhấn mạnh, cần đáp ứng 3 tiêu chí: Hiểu đúng sản phẩm - Mua đúng sản phẩm mình cần - Mua đúng mức tài chính phù hợp với khả năng hiện có.
Hiện nay, tại Việt Nam mới chỉ có khoảng 11% dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ trong khi ở các nước phát triển, tỷ lệ này chiếm khoảng 50%-70% tổng số dân. Tại châu Á hay Mỹ, tỷ lệ này rất cao. Định hướng đến năm 2030 của Chính phủ, số lượng tham gia bảo hiểm nhân thọ sẽ đạt khoảng 18% dân số, đồng thời doanh thu phí bảo hiểm đạt khoảng 3,3%-3,5% GDP. Dữ liệu trên cho thấy, dư địa của thị trường Việt Nam còn rất lớn, tiềm năng cao nhưng mức độ bao phủ hiện còn thấp do niềm tin của người dân chưa cao. Hiện nay, Nhà nước cũng đang tích cực hoàn thiện hành lang pháp lý để củng cố lại niềm tin này.
Ghi nhận từ nghiên cứu của bản thân, chuyên gia Ngô Trí Long cung cấp, hiện có khoảng 11,5 triệu người dân tham gia (tương đương khoảng 11% dân số). Các yếu tố khách quan tác động bao gồm: Áp lực chi tiêu và thu nhập: Thu nhập của nhiều gia đình chưa thật sự ổn định nên họ phải ưu tiên cho các nhu cầu thiết yếu trước mắt hơn là các kế hoạch dài hạn. Tâm lý tiết kiệm và sự cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác: Người Việt có truyền thống tích lũy với tinh thần “1 đồng cũng tiết kiệm”. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều kênh đầu tư khác như vàng, ngoại tệ, bất động sản, chứng khoán hay gửi tiết kiệm ngân hàng với lãi suất hấp dẫn. Điều này khiến dòng tiền bị hút sang các kênh đầu tư mang lại lợi nhuận thấy ngay.
“Một điều khá nghịch lý là khi kinh tế biến động, lẽ ra người dân càng cần mua bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro, nhưng thực tế họ lại có tâm lý thắt chặt chi tiêu và e ngại tham gia các cam kết tài chính dài hạn. Do đó, để đạt được các mục tiêu định hướng đến năm 2030, các doanh nghiệp bảo hiểm phải tư vấn chuẩn xác, đúng nhu cầu; đồng thời cơ quan quản lý nhà nước phải tăng cường trách nhiệm bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người tham gia bảo hiểm”, chuyên gia khuyến nghị.
Phát huy hiệu quả kênh huy động vốn từ bảo hiểm nhân thọ
Dưới góc nhìn kinh tế vĩ mô, phải thẳng thắn thừa nhận rằng, ngành bảo hiểm nhân thọ quản lý một lượng vốn dài hạn đáng kể. Cung cấp góc nhìn thú vị về nội dung này, PGS,TS Long chỉ ra, trong nền kinh tế có rất nhiều định chế tài chính, thì định chế tài chính của bảo hiểm nhân thọ là một trong những định chế có rất nhiều ưu điểm, dù quy mô thu phí của từng người một rất nhỏ (có thể chỉ khoảng 10 triệu, 20 triệu hay 30 triệu đồng/năm) nhưng lại được thu trong một thời gian rất dài. Do đó, quy mô nguồn vốn tích tụ là vô cùng lớn.
Trong bối cảnh như vậy, rõ ràng, bảo hiểm nhân thọ không chỉ dừng lại ở việc cung cấp các sản phẩm bảo vệ. Đứng ở góc độ kinh tế vĩ mô, đây là một định chế tài chính rất quan trọng, là “mức đệm” tài chính cho nền kinh tế, giúp tăng khả năng chống chịu rủi ro của nền kinh tế. Đặc biệt, trong bối cảnh từ năm 2026-2030, nền kinh tế của chúng ta đặt mục tiêu phải tăng trưởng GDP hai con số.
“Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới và muốn thực hiện được điều đó thì phải có tốc độ tăng trưởng cao, mà muốn tăng trưởng cao thì một yếu tố hết sức quan trọng là nguồn lực tài chính. Bên cạnh nguồn lực chung, nguồn lực từ bảo hiểm nhân thọ đóng góp một phần rất lớn”, PGS,TS Long nhìn nhận.
Cũng qua phân tích, chuyên gia Long bổ sung, nguồn lực tài chính từ bảo hiểm nhân thọ tạo ra một “vùng đệm” cho Nhà nước, doanh nghiệp và người dân phản ứng khi có biến động thu nhập hoặc thị trường bất ổn, thông qua 5 cơ chế gồm:
Thứ nhất, tạo nguồn lực dự phòng: Bù đắp thiệt hại khi xảy ra thiên tai, rủi ro, thất nghiệp hoặc kinh tế biến động.
Thứ hai, duy trì dòng vốn khi gặp khó khăn: Khi kinh tế khó khăn, dòng vốn ngân hàng thường rút nhanh và tiêu dùng thu hẹp, thì đây là nguồn lực hỗ trợ quan trọng.
Thứ ba, giảm áp lực lên nguồn vốn ngân hàng: Trong hoạt động kinh doanh, ngoài nguồn vốn gián tiếp từ thị trường chứng khoán, doanh nghiệp vẫn dựa nhiều vào ngân hàng. Nguồn vốn dài hạn từ bảo hiểm nhân thọ sẽ là nền tảng tài chính hỗ trợ, chia sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Thứ tư, hạn chế tác động tiêu cực từ các cú sốc lớn: Nguồn lực này giúp giảm thiểu đáng kể các tác động tiêu cực khi nền kinh tế gặp biến động lớn.
Thứ năm, gia tăng niềm tin và khả năng phục hồi: Khi có một tiềm lực tài chính mạnh mẽ, người dân và doanh nghiệp sẽ yên tâm hơn trong chi tiêu và đầu tư. Bởi vì khi có tiềm lực lớn, khả năng chống chịu và vượt qua các cú sốc sẽ tốt hơn rất nhiều.