Đóng tàu Việt Nam vươn ra biển lớn (Kỳ 3)

Kỳ 3: Gỡ nút thắt để ngành đóng tàu bứt phá

Đóng tàu là một ngành công nghiệp nền tảng, có sức lan tỏa lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Ảnh: KHẮC ANH
Đóng tàu là một ngành công nghiệp nền tảng, có sức lan tỏa lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Ảnh: KHẮC ANH

Giữa lúc thị trường toàn cầu dịch chuyển tìm đến Việt Nam, một nghịch lý lại xảy ra khi nhiều doanh nghiệp đóng tàu trong nước buộc phải từ chối đơn hàng. Khơi thông nút thắt tại Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC) không chỉ là yêu cầu cấp bách để xử lý gánh nặng quá khứ, mà còn là điều kiện tiên quyết để giữ vững năng lực nội địa, nắm bắt cơ hội và đưa ngành đóng tàu vươn khơi.

Nhiệm vụ chưa từng có tiền lệ

Tháng 9/2024, bão Yagi quét qua, làm gãy cần cẩu 300 tấn, khiến nhà xưởng Công ty TNHH MTV Đóng tàu Hạ Long đổ sập. Thiệt hại nặng nề này giáng thêm một đòn vào cơ sở vật chất vốn đã xuống cấp nơi đây. Thế nhưng, do đang trong quá trình phá sản theo Nghị quyết 220/NQ-CP, doanh nghiệp không thể tái đầu tư để sửa chữa, phục hồi. Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Phó Giám đốc Công ty Đóng tàu Hạ Long, thẳng thắn chia sẻ: “Nhiều đối tác nước ngoài muốn ký hợp đồng mới nhưng chúng tôi buộc phải từ chối vì không đủ lực đáp ứng”. Không chỉ “lực bất tòng tâm” về hạ tầng, Công ty Đóng tàu Hạ Long còn oằn mình dưới gánh nặng nợ nần kéo dài từ sau khủng hoảng Vinashin. Thời điểm đó, phải vay nợ để đầu tư vào hạ tầng nhà xưởng nhưng công việc gia công chỉ đem lại biên lợi nhuận 2-3%, không đủ bù chi phí. Sống dựa vào tiền ứng trước của khách hàng, đóng tàu Hạ Long đành đánh mất nhiều cơ hội mở rộng thị phần.

Thực trạng này không chỉ diễn ra tại đóng tàu Hạ Long mà là mẫu số chung của nhiều đơn vị thành viên SBIC. Trên thực tế, hạ tầng ngành đóng tàu cần nguồn vốn đầu tư lớn trong khi biên lợi nhuận rất thấp. Các doanh nghiệp vay nợ cả trong và ngoài nước, sau nhiều năm tỷ giá biến động, lãi mẹ đẻ lãi con, khiến việc trả nợ ngày càng trở nên bất khả thi... Quyền Giám đốc Công ty TNHH MTV đóng tàu Nam Triệu Phạm Quang Tuyến cho biết, khó khăn lớn nhất hiện nay không nằm ở việc thiếu đơn hàng, mà là hạn chế trong tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và bảo lãnh tín dụng để triển khai các dự án quy mô lớn. Do chưa hoàn tất tái cơ cấu nên chúng tôi khó tiếp cận các khoản vay thương mại với điều kiện thuận lợi. Điều này đặt ra áp lực lớn về dòng tiền, buộc công ty phải quản trị chặt chẽ chi phí.

SBIC được thành lập năm 2013 trên cơ sở sắp xếp, tái cơ cấu lại Tập đoàn Vinashin, với vốn điều lệ ban đầu hơn 9.500 tỷ đồng. Tuy nhiên, do gánh khoản nợ khổng lồ Vinashin để lại, suốt hơn một thập kỷ qua, các đơn vị thành viên phải hoạt động trong điều kiện ngặt nghèo: bị siết chặt tín dụng, không thể tiếp cận vốn vay ngân hàng, thường xuyên đối mặt nguy cơ cưỡng chế thuế và hóa đơn. Dẫu vậy, nhiều nhà máy đóng tàu vẫn kiên trì giữ được bộ khung nhân sự, duy trì hoạt động sản xuất và từng bước vượt qua giai đoạn khó khăn nhất. Nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng bộ và toàn thể cán bộ, người lao động SBIC đã thực hiện đóng mới được 560 tàu, sửa chữa bàn giao 1.644 lượt tàu, doanh thu đạt gần 16.700 tỷ đồng, tăng 15,5%.

Thực hiện Thông báo số 23-TB/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết 220/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) đã hoàn tất các thủ tục để tiến hành phá sản đối với SBIC và bảy công ty thành viên. Riêng Công ty CP Đóng tàu Sông Cấm do hoạt động hiệu quả nên thực hiện rút vốn nhà nước thay vì đưa vào diện phá sản. Tuy nhiên, nếu triển khai máy móc quy trình phá sản buộc dừng sản xuất để kiểm kê tài sản thì hàng chục nghìn lao động sẽ mất việc. Vì vậy, Bộ Xây dựng đã lên phương án xử lý linh hoạt. Theo đó, tách tài sản nhà máy thành hai phần, trong đó dây chuyền sản xuất được ưu tiên đấu giá trước để tìm nhà đầu tư tiếp quản, vận hành trở lại ngay trong giai đoạn chuyển tiếp, tránh đứt gãy chuỗi cung ứng.

Tham dự Đại hội Đảng bộ Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy lần thứ V, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Xuân Sang tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ đặc biệt chưa từng có tiền lệ SBIC đang phải triển khai khi vừa phá sản, vừa duy trì sản xuất. Theo đó, Thứ trưởng Nguyễn Xuân Sang chỉ đạo: “SBIC phải xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ để có thể thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ cốt lõi là: Tiếp tục duy trì sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động; triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết 220/NQ-CP về tái cơ cấu, xử lý doanh nghiệp, để đưa tổng công ty sang một trang mới”.

92.jpg
Phương án phá sản SBIC được thực hiện linh hoạt để tránh đứt gãy sản xuất.

Cần một chiến lược đồng bộ

Trước yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc ngành đóng tàu, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đã hoàn thiện Dự thảo và trình Bộ Xây dựng Đề án nâng cao năng lực các doanh nghiệp đóng tàu trong nước, đặt mục tiêu đến năm 2030 xử lý dứt điểm các vướng mắc của SBIC; ổn định sản xuất, kinh doanh và củng cố thương hiệu cho toàn hệ thống, bao gồm cả các đơn vị tiếp quản cơ sở từ SBIC sau phá sản. Ngành đóng tàu đặt mục tiêu nâng thị phần đóng mới đạt 0,8-0,9% sản lượng toàn cầu, tập trung vào các dòng tàu chở hàng tổng hợp đến 70.000 DWT, tàu container, tàu chở khí hóa lỏng LPG và tàu dịch vụ. Trong đó, thị trường nội địa sẽ đáp ứng khoảng 4-5 triệu DWT nhu cầu đóng mới đội tàu quốc gia; thị phần xuất khẩu hướng tới đạt 30%, tương đương 1 triệu DWT. Tầm nhìn đến năm 2050, ngành phấn đấu nâng tỷ lệ nội địa hóa lên hơn 50% (trong đó có 20% vật liệu và trang thiết bị tàu thủy), tổng sản lượng đóng tàu trong nước đạt khoảng 2% sản lượng toàn cầu, tạo bước chuyển mạnh mẽ cho công nghiệp biển Việt Nam.

Để ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam vươn khơi, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách TP Hải Phòng Lã Thanh Tân cho rằng cần phải có một chiến lược phát triển đồng bộ, tổng thể và lâu dài. Dù tỷ suất lợi nhuận không cao nhưng ngành đóng tàu có sức lan tỏa lớn đến nhiều lĩnh vực như thép, luyện kim, điện-điện tử, logistics... Với đặc thù sử dụng vốn lớn, vòng quay chậm, mặt bằng rộng, ngành đóng tàu cần có sự dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước và sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ.

Một trong những "nút thắt" lớn hiện nay của ngành là phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu nguyên vật liệu và linh kiện, trong khi tỷ lệ nội địa hóa thực chất mới chỉ đạt 10-15%. Vì vậy, ông Tân nhấn mạnh, cần xây dựng chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp phụ trợ, thúc đẩy sản xuất thép, linh kiện, động cơ, thiết bị chuyên dùng cho ngành tàu thủy. Đồng thời, kiến nghị bổ sung ngành đóng tàu và công nghiệp phụ trợ vào danh mục công nghiệp ưu tiên phát triển theo Nghị quyết 23-NQ/TW của Trung ương.

Đón đầu xu hướng xanh hóa vận tải biển toàn cầu, ông Tân cũng đề xuất các chính sách khuyến khích đóng tàu sử dụng năng lượng sạch, ưu đãi tín dụng, thuế và phí cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ xanh, cũng như nghiên cứu hỗ trợ chủ tàu trong nước thay thế tàu đóng mới nội địa. Đây là bước đi cần thiết nhằm nâng cao năng lực đóng tàu, bảo vệ thị trường trong nước và đưa ngành đóng tàu Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ông Lê Minh Đạo, Phó Cục trưởng Hàng hải và Đường thủy Việt Nam nhận định, ngành đóng tàu đang bước vào một vận hội lớn khi thế giới có nhu cầu trẻ hóa đội tàu, chuyển đổi xanh trong vận tải biển và tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, để nắm bắt được cơ hội này, điều kiện tiên quyết là phải xử lý dứt điểm những tồn tại kéo dài, đặc biệt là sớm hoàn tất quá trình phá sản SBIC theo đúng lộ trình, bảo đảm quyền lợi người lao động và không làm gián đoạn chuỗi sản xuất.

“Đóng tàu không chỉ là ngành sản xuất, mà là nơi kết tinh trí tuệ, kỹ nghệ và khát vọng vươn khơi. Nếu có chiến lược đúng và các chính sách đồng bộ về thuế, tín dụng, đất đai, phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực, ngành công nghiệp đóng tàu hoàn toàn có thể trở thành một trụ cột trong phát triển kinh tế biển. Đây không chỉ là bài toán kinh tế, mà còn là vấn đề giữ nghề, giữ chủ quyền và khai thông một ngành công nghiệp nền tảng, có sức lan tỏa lớn đối với toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là chiến lược phát triển kinh tế biển của đất nước", Phó Cục trưởng Lê Minh Đạo nhấn mạnh.

Có thể bạn quan tâm

Sản phẩm alumin phục vụ xuất khẩu tại Nhà máy Alumin Nhân Cơ. Ảnh: LÂM ĐỒNG

Khi ngành nhôm vẫn dừng ở bán thành phẩm

Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có trữ lượng bauxite lớn trên thế giới. Nhưng sau hơn một thập kỷ phát triển công nghiệp bauxite tại Tây Nguyên, chuỗi giá trị nhôm trong nước vẫn chưa thể hình thành trọn vẹn.

Người tiêu dùng trẻ lựa chọn sản phẩm SANYO có mức giá phù hợp nhưng vẫn bảo đảm chất lượng. Ảnh: NAM ANH

Thương hiệu Nhật trở lại và sức hút từ thị trường Việt

Sự trở lại của thương hiệu điện máy Nhật Bản Sanyo sau gần một thập niên vắng bóng không chỉ gợi lại ký ức của nhiều thế hệ người tiêu dùng Việt Nam. Đất nước hình chữ S đang trở thành điểm đến hấp dẫn hàng đầu của dòng vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thành phố Hồ Chí Minh đang tập trung nhiều giải pháp để tận dụng tiềm năng kinh tế cuối tuần.

Tận dụng tiềm năng kinh tế cuối tuần

Kinh tế cuối tuần được xem là hướng tiếp cận tiềm năng, giúp Thành phố Hồ Chí Minh tối ưu hóa việc sử dụng thời gian, không gian đô thị và hạ tầng hiện hữu. Mô hình này cũng góp phần tạo thêm giá trị gia tăng cho các ngành thế mạnh như dịch vụ, thương mại và du lịch.

Đồ họa: ANH QUÂN

Giải bài toán kiểm soát lạm phát

Giá dầu, chi phí logistics và áp lực tỷ giá đang khiến bài toán kiểm soát lạm phát của Việt Nam trở nên phức tạp hơn so với các giai đoạn trước.

Tuổi đời của giải chạy

Ngoài năng lực vận hành, số lượng người chạy (runner), trải nghiệm mang lại cho người tham gia… thì thâm niên hay tuổi đời cũng là yếu tố quan trọng để tạo nên sức hút của một giải chạy. Năm 2026 đã đi qua gần một nửa và ghi nhận sự thanh lọc gắt gao trong các giải chạy bộ.

Tính đến nay, đã có 42 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi niêm yết. Ảnh: NAM ANH

Lãi suất lại gặp áp lực

Khi tín dụng tăng nhanh còn tiền gửi tăng chậm, áp lực lãi suất bắt đầu quay lại hệ thống ngân hàng. Ở mặt khác, ngân hàng đang chịu áp lực phải bảo đảm mức lãi vay ở mức thấp nhất có thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.

Kỹ sư đang thuyết trình giới thiệu sản phẩm công nghệ. Ảnh: NGUYỆT ANH

Vẫn thiếu người “vẽ bản đồ” công nghệ

Chính phủ đã có động thái thể hiện quyết tâm bứt phá bằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhưng một thực tế đang đặt ra là việc khó tìm kiếm những người “vẽ bản thiết kế” cho các đề tài, dự án lớn.

Số doanh nghiệp thành lập mới tăng cho thấy thể chế đang chuyển động theo hướng thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bồi đắp “sức bền” cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp gia nhập thị trường gia tăng, nhưng áp lực rút lui vẫn lớn. Bồi đắp “sức bền” trở thành yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp trụ lại và phát triển.

Mô hình mới cho F&B nhỏ lẻ

Do tính chất phổ biến và thiết yếu, kinh doanh ăn uống (F&B) luôn là một ngành sôi động dù có phải đối mặt với nhiều thách thức. Nhưng trong thực tế ngành F&B đang có những thay đổi, thách thức vô cùng mạnh mẽ, đặc biệt ở quy mô nhỏ.

Những dự án được đầu tư hạ tầng đồng bộ thường ghi nhận giá trị bất động sản tăng rõ rệt. Ảnh: NAM ANH

“Cơn sốt” kỳ vọng của bất động sản

Liên tiếp các dự án hạ tầng lớn được công bố, giá chào bán bất động sản tại nhiều nơi bị đẩy lên cao. Các chuyên gia cảnh báo, thị trường đang được dẫn dắt bởi kỳ vọng nhiều hơn nền tảng.

Hệ sinh thái 5G Open RAN do Viettel và Qualcomm hợp tác.

Đặt nền móng cho kỷ nguyên kết nối mới

Trong khi mạng 5G vẫn đang trong quá trình triển khai và thương mại hóa, Việt Nam đã bắt đầu chuẩn bị nền tảng 6G. Những bước đi này mở ra cơ hội để tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái công nghệ toàn cầu.

Nhiều phòng thí nghiệm về robot, tự động hóa, giao thông thông minh, cảm biến… được đầu tư mạnh mẽ tại các cơ sở đào tạo. Ảnh: NGUYỄN NAM

Đường vào công nghệ lõi

Việc ban hành danh mục 11 nhóm công nghệ chiến lược cùng 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược thể hiện bước đi hiện thực hóa tham vọng của Việt Nam.

HTX khu vực nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn và tổ chức sản xuất cho nông dân. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Gỡ điểm nghẽn để hợp tác xã tăng tốc

Nghị quyết 68-NQ/TW đã mở ra cơ hội liên kết sâu hơn với kinh tế tư nhân, đặt hợp tác xã trước sức ép phải đổi mới quản trị, chuyển đổi số và tham gia thị trường bằng tư duy của một chủ thể kinh tế hiện đại.

Tâm lý e ngại rủi ro thể chế còn có thể khiến doanh nghiệp thu hẹp quy mô đầu tư. Ảnh: BẮC SƠN

Áp lực nâng chuẩn môi trường kinh doanh

Dù vẫn giữ sức hút đầu tư, những rào cản về thủ tục và chi phí tuân thủ đang tạo áp lực nâng chuẩn môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Cải cách vì thế trở thành yêu cầu cấp thiết để tăng sức cạnh tranh trong khu vực.

Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam đã kiến nghị Thủ tướng cho phép doanh nghiệp được vay vàng từ người dân với lãi suất thỏa thuận theo quy định.

Để vàng không còn “nằm yên”

Đề xuất cho doanh nghiệp vay vàng trong dân một lần nữa làm nóng bài toán đưa hàng trăm tấn vàng “nằm yên” trở lại lưu thông. Tuy nhiên, tranh luận này không chỉ dừng ở cơ chế vay - cho vay, mà phản ánh vấn đề sâu xa hơn: Thị trường vàng Việt Nam vẫn thiếu một cấu trúc vận hành hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng đồng loạt điều chỉnh hạ lãi suất. Ảnh: NAM ANH

Thế khó của ngành ngân hàng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng đang hoạt động trong bối cảnh nhiều sức ép đan xen. Các ngân hàng một mặt phải thực hiện yêu cầu giảm lãi suất, mặt khác, mục tiêu tăng trưởng được điều chỉnh thấp hơn so với năm 2025.

Sức mạnh cổ đông

Số lượng cổ đông lớn không chỉ là câu chuyện của mỗi doanh nghiệp, mà nó là tầm nhìn cũng như kỳ vọng của thị trường chứng khoán (TTCK). Doanh nghiệp làm ăn bài bản, sở hữu số lượng cổ đông lớn là minh chứng rõ nét cho sự thành công của mô hình công ty đại chúng.

Tiềm năng của một dòng phim

Tuần qua vừa ghi nhận phim kinh dị “Phí Phông: Quỷ máu rừng thiêng” vượt ngưỡng doanh thu 100 tỷ đồng. Đây là bộ phim Việt Nam thứ 7 vượt ngưỡng “trăm tỷ” trong năm 2026

Niềm vui cần thủ khi “lên hàng”.

“Cơn sốt” săn tôm càng xanh trên sông Dinh

Từ đầu xuân 2026, dòng sông Dinh hiền hòa ở Yên Thành (Nghệ An) bất ngờ “dậy sóng” bởi một "cơn sốt" săn tôm càng xanh. Từ tinh mơ đến đêm khuya, hai bên bờ sông ken dày cần thủ, đèn câu sáng rực.

Thương hiệu quốc gia trở thành nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp Việt nâng cao giá trị. Ảnh: NAM HẢI

Nâng "độ sâu" cho thương hiệu Việt

Sau hơn hai thập kỷ, Chương trình Thương hiệu quốc gia đã giúp nâng tầm doanh nghiệp Việt. Nhưng thách thức vẫn còn đó khi nhiều doanh nghiệp vẫn dừng ở gia công, chưa có nhiều thương hiệu tầm cỡ quốc tế.

Nhiều doanh nghiệp đã chủ động đầu tư năng lượng tái tạo để phục vụ sản xuất. Ảnh: KHIẾU MINH

Gỡ nút thắt đưa điện “xanh” vào khu công nghiệp

Cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) và hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) được kỳ vọng trở thành nền tảng cho quá trình xanh hóa sản xuất. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy nhiều điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và tài chính vẫn đang cản trở dòng chảy điện xanh vào khu công nghiệp.

Quy mô tài sản bảo đảm trong toàn hệ thống ngân hàng đang ở mức rất lớn. Ảnh: NGUYỆT ANH

Áp dụng cơ chế thị trường cho xử lý nợ

Theo các chuyên gia, một điểm nghẽn lớn trong xử lý nợ xấu là cơ chế định giá và mua bán nợ. Những khoản nợ vốn dĩ mang bản chất “xấu” lại được rao bán như thể “đẹp”.

Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất 2.

Nhiều vướng mắc ngăn bước các đại dự án

Nhiều dự án công nghiệp và hạ tầng quy mô lớn đang gặp khó trong việc đạt các mốc tiến độ đã đặt ra. Vướng mắc về mặt bằng, tái định cư và thủ tục liên quan vẫn là những lý do "muôn thuở".

Cẩn trọng với “chuyên gia online”

Trên mạng xã hội hiện nay thường xuyên diễn ra các hoạt động phân tích, khuyến nghị mua, bán cổ phiếu (CP) và nếu nhà đầu tư (NĐT) thiếu kinh nghiệm nghe theo thì rủi ro đi kèm là rất lớn. Cần nhấn mạnh, rủi ro ở đây là cả cho người “phím hàng” và người nghe theo.

Cán cân thay đổi

Trước đây, cơ hội được chia đều cho tất cả các đơn vị kinh doanh trên sàn thương mại điện tử (TMĐT). Nhưng cán cân bắt đầu thay đổi khi chỉ trong vài năm gần đây, các nhãn hiệu lớn, shop lớn, hay các “tay chơi” giàu nguồn lực đã nắm thế chủ động.