Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt
Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Việc sửa luật phải đồng bộ, đúng, trúng, kịp thời; khơi thông nguồn lực nhưng không tư nhân hóa đất đai; hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp; Nhà nước điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất; bảo đảm cải thiện chỗ ở, điều kiện sống và sinh kế của người có đất thu hồi”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước TÔ LÂM

(Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, ngày 24/7/2026)

Khi mục tiêu phát triển thay đổi

Đối với Việt Nam, đất đai không chỉ đơn thuần là một loại tài sản, mà còn là nguồn lực đặc biệt của nền kinh tế, là không gian để tổ chức và phát triển đô thị, hạ tầng, công nghiệp, nhà ở và nông nghiệp; đồng thời cũng là nguồn lực tài chính quan trọng của Nhà nước, tài sản bảo đảm của doanh nghiệp và người dân, “đầu vào” thiết yếu của phần lớn các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

Chính vì có vai trò đa diện và quan trọng như vậy, việc quản lý đất đai luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, quản lý đất đai hiệu quả chưa bao giờ là một nhiệm vụ đơn giản. Bởi, quản lý đất đai không chỉ dừng lại ở việc thống kê, tổng hợp diện tích đất, rà soát hồ sơ hay xác lập đầy đủ hiện trạng sử dụng đất. Quan trọng hơn, quản lý phải hướng tới việc nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng nguồn lực đất đai, bảo đảm đất đai được phân bổ và sử dụng hợp lý, qua đó phát huy tối đa giá trị kinh tế-xã hội mà nguồn lực này có thể tạo ra.

Năm 2022, trong bối cảnh Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp bách về việc phải khắc phục triệt để những hạn chế kéo dài trong quản lý và sử dụng đất đai, như: bất cập về quy hoạch, thu hồi đất, bồi thường, giá đất, thất thoát nguồn lực, khiếu kiện kéo dài và tình trạng sử dụng đất chưa hiệu quả... đòi hỏi phải có một cuộc cải cách mạnh mẽ về thể chế, Nghị quyết số 18-NQ/TW được ban hành đã tạo nền tảng cơ bản cho xây dựng Luật Đất đai năm 2024 và hoàn thiện hệ thống chính sách về đất đai. Nhưng chỉ hơn hai năm sau, năm 2026, bối cảnh phát triển của đất nước đã có những thay đổi rất lớn. Việt Nam bước vào giai đoạn phấn đấu tăng trưởng ở mức hai con số trong nhiều năm liên tục, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, cách nhìn về các nguồn lực phát triển cũng phải thay đổi, với nhiều yêu cầu mới cấp thiết hơn. Để giải quyết vấn đề cấp bách đó, đồng thời đề ra những định hướng quan trọng hơn, phù hợp hơn, Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan đã ra đời, với yêu cầu mạnh mẽ về nhiệm vụ thể chế hóa chủ trương “quản lý đất đai chặt chẽ, minh bạch, công bằng, hiệu quả, bền vững, đưa đất đai thật sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao đời sống của Nhân dân, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”.

Đặt ra yêu cầu rộng hơn, xa hơn về tầm nhìn

Trong nhiều năm, khi nói đến đất đai, người ta thường nghĩ trước hết đến những vấn đề như giao đất, thu hồi đất, giá đất, bồi thường, tranh chấp hay thủ tục hành chính. Những vấn đề đó vẫn rất quan trọng và tiếp tục phải được giải quyết. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, chúng ta mới nhìn nhận đất dưới góc độ quản lý.

Không thay thế hay phủ nhận Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 về “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”, Nghị quyết số 21-NQ/TW kế thừa toàn bộ những nguyên tắc nền tảng đã có, đồng thời phản ánh bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vai trò của đất đai đối với sự phát triển đất nước. Đặc biệt, thay vì tìm hướng trả lời câu hỏi làm thế nào để quản lý và sử dụng đất đai hiệu quả hơn, Nghị quyết số 21-NQ/TW đã đặt ra một câu hỏi ở tầm chiến lược, đó là: Làm thế nào để đất đai trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực tăng trưởng của quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới?

Từ đó, Nghị quyết số 21-NQ/TW đặt ra yêu cầu rộng hơn, xa hơn về tầm nhìn. Điều cần quan tâm không chỉ là đất được quản lý đúng hay chưa, mà còn là đất có đang tạo ra giá trị tương xứng hay không? Một khu đất có thể được quản lý rất chặt chẽ về mặt hồ sơ nhưng vẫn bỏ hoang nhiều năm. Một dự án có thể hoàn thành đầy đủ thủ tục, nhưng triển khai chậm, không tạo thêm việc làm, không đóng góp đáng kể cho tăng trưởng. Một quỹ đất công có thể không bị thất thoát về pháp lý, nhưng lại chưa được khai thác để phục vụ phát triển. Như vậy, quản lý đúng chưa chắc đã đồng nghĩa với phát huy tốt nguồn lực.

Điểm mới quan trọng nhất của Nghị quyết số 21-NQ/TW là sự chuyển dịch trọng tâm từ quản lý đất đai sang phát huy nguồn lực đất đai. Tất nhiên, quản lý đất đai vẫn là yêu cầu không thể thay đổi, đất đai tiếp tục “thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Và nhà nước vẫn giữ vai trò quyết định trong quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm và bền vững. Tuy nhiên, Nghị quyết số 21-NQ/TW đã mở rộng cách tiếp cận. Theo đó, khi mục tiêu và tầm nhìn thay đổi, đất đai đã được đặt vào vị trí của một nguồn lực chiến lược, có khả năng tạo ra tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng không gian phát triển của quốc gia.

1.jpg
Mở ra không gian phát triển mới trong quy hoach thủ đô Hà Nội với tầm nhìn 100 năm từ những cây cầu vượt sông Hồng. Ảnh: Đạt Thành

Sửa luật, tạo dư địa cho động lực phát triển mới

Yêu cầu này càng trở nên rõ nét trong bối cảnh hiện nay, khi một trong những điểm nghẽn của nền kinh tế vẫn nằm ở khả năng đưa các nguồn lực, trong đó có đất đai, vào sử dụng hiệu quả. Đất đai nếu bị kéo dài thời gian hoàn thiện thủ tục, không thể thỏa thuận, không thể xác định được nghĩa vụ tài chính hoặc gặp các vướng mắc khác thì dù vẫn tồn tại về mặt vật chất, trên thực tế nguồn lực này chưa thể được chuyển hóa thành đầu tư, sản xuất, hạ tầng, đô thị và tăng trưởng kinh tế.

Đó là lý do Nghị quyết số 21-NQ/TW nhấn mạnh mục tiêu đưa đất đai trở thành “nguồn lực chiến lược”, “lợi thế cạnh tranh” và “động lực phát triển”. Ba khái niệm này không chỉ mang ý nghĩa chính trị, mà còn phản ánh một triết lý phát triển mới đầy biện chứng.

Và đó cũng chính là lý do Nghị quyết số 21-NQ/TW dành nhiều sự quan tâm hơn đến cơ chế phân bổ nguồn lực đất đai. Đất phải được đưa đến đúng chủ thể có khả năng sử dụng hiệu quả nhất; quyền sử dụng đất phải đủ rõ ràng để người dân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư; thị trường quyền sử dụng đất phải minh bạch để nguồn lực được lưu chuyển đến nơi tạo ra giá trị cao hơn; còn Nhà nước phải sử dụng các công cụ tài chính để điều tiết hợp lý phần giá trị tăng thêm từ đất, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Quán triệt sâu sắc quan điểm, định hướng của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Chính phủ đã khẩn trương thông qua chính sách của dự án Luật Đất đai (sửa đổi), trình Quốc hội cho ý kiến về định hướng chính sách sửa đổi luật. Theo kế hoạch, dự án Luật Đất đai (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa XVI vào cuối năm 2026.

Theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, dự kiến sau khi thông qua Luật Đất đai (sửa đổi), sẽ có hơn 15 luật khác được sửa đổi, bổ sung cho đồng bộ với bộ luật quan trọng này. Chính vì vậy, việc sửa đổi Luật lần này là nhiệm vụ chính trị quan trọng, nhằm kịp thời thể chế hóa Nghị quyết số 21-NQ/TW; hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, khơi thông và phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, tạo dư địa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

“Việc sửa đổi bộ luật đặc biệt quan trọng này không chỉ để xử lý tình huống trước mắt mà phải có tầm nhìn dài hạn, phải đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật để tạo nền tảng thể chế đồng bộ, liên thông, thống nhất, minh bạch, ổn định và khả thi”, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên nêu rõ.

Có thể bạn quan tâm

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Không gian trải nghiệm sáng tạo tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông tỉnh Lai Châu khuyến khích học sinh làm quen, thực hành kỹ thuật tạo hình truyền thống của các dân tộc tại địa phương. (Trong ảnh: Các em học sinh trải nghiệm thực hành kỹ thuật vẽ sáp ong của đồng bào Mông hoa). Ảnh: Vũ Công

Hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Một trong những mục tiêu đến năm 2030 mà Nghị quyết đề ra là 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.

Học sinh Trường THCS Lê Ngọc Hân tham gia triển lãm tranh và giao lưu với các bác, các chú thương binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh ở tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Lê Ngọc

Xây dựng môi trường khuyến khích sự sáng tạo

Giáo dục nghệ thuật ở bậc phổ thông hiện nay là con đường quan trọng để phát triển cảm xúc, khả năng quan sát, tư duy sáng tạo và phát triển nhân cách của học sinh. Trong đó, môn Mĩ thuật góp phần giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp, biết biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình, biết sáng tạo và làm cho môi trường sống chung quanh trở nên đẹp hơn.

Cấu trúc mô hình SMART - MUSIC, một phương pháp giáo dục âm nhạc có thể phù hợp với học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đặc biệt

Việc ứng dụng công nghệ số trong dạy học âm nhạc cho học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt mở ra khả năng tăng cường tính trực quan, linh hoạt và cá nhân hóa quá trình học tập. Những đặc điểm khác biệt về khả năng chú ý, giao tiếp, ghi nhớ và tốc độ tiếp thu của học sinh tự kỷ hoặc khuyết tật trí tuệ đặt ra yêu cầu lựa chọn nội dung, phương pháp và học liệu phù hợp với từng cá nhân.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.