Danh mục thuốc BVTV của Việt Nam hiện có khoảng 132/521 hoạt chất sinh học, chiếm khoảng 25,34% tổng số hoạt chất được phép sử dụng và tỷ lệ này đang tiếp tục tăng. Thuốc BVTV sinh học thường có thời gian cách ly ngắn, mức độ tồn dư thấp, là một lợi thế lớn cho nông sản xuất khẩu. Bên cạnh đó, không ít chế phẩm vi sinh khi chăm bón còn giúp cải tạo độ phì nhiêu, tăng sức đề kháng cho cây trồng.
Tuy nhiên, việc sản xuất, sử dụng thuốc BVTV còn gặp nhiều khó khăn, do một số nguyên nhân: Các thuốc sinh học chưa được người dân lựa chọn nhiều do chi phí sử dụng cao, thời gian bảo quản ngắn, hiệu quả chậm hơn so với thuốc hóa học, không ổn định do bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh và điều kiện sử dụng. Trong khi đó, thuốc BVTV hóa học có hiệu quả tức thời trong quá trình sử dụng, giá thành rẻ.
Một điểm nghẽn khác, theo GS,TS Phạm Văn Toản, nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam: Hiện chưa có hành lang pháp lý dành cho thuốc sinh học, do vậy quy trình đăng ký lưu hành vẫn đang áp dụng giống với thuốc hóa học, nên phải trải qua quy trình xét duyệt phức tạp, tốn nhiều chi phí và thời gian.
Năm 2023, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ban hành “Đề án phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, đặt mục tiêu: Đến năm 2030, nâng tỷ lệ sản phẩm thuốc BVTV sinh học trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam lên 30% so với tổng số thuốc BVTV; tăng lượng sử dụng thuốc BVTV sinh học lên 30% so với tổng lượng thuốc sử dụng; nâng tỷ lệ các cơ sở sản xuất thuốc BVTV sinh học lên 90% so với tổng số cơ sở sản xuất thuốc BVTV đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc.
Mặc dù vậy, việc triển khai Đề án trên thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc; việc khuyến khích người dân, doanh nghiệp tham gia chưa đạt như kỳ vọng. Đến nay vẫn chưa xây dựng được cơ chế quản lý riêng đối với thuốc sinh học; thủ tục đăng ký, cấp phép lưu hành còn rườm rà; chưa xây dựng được các tiêu chuẩn mới về chất lượng thuốc sinh học...
Theo nhiều chuyên gia, cơ quan chức năng cần tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, chính sách, đồng thời đẩy mạnh tập huấn, nâng cao nhận thức của người sản xuất, người tiêu dùng và cộng đồng về vai trò của thuốc sinh học. Cùng đó, cần hợp tác công tư, xây dựng phát triển các chuỗi sản xuất nông sản an toàn, nông sản xuất khẩu và nông nghiệp hữu cơ, bởi đây là những lĩnh vực có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm thuốc BVTV sinh học.
Một vấn đề quan trọng khác: Tiếp tục rà soát Danh mục thuốc BVTV theo hướng từng bước loại bỏ các hoạt chất có nguy cơ cao, đồng thời ưu tiên các hoạt chất có độc tính thấp, ít ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường.
Ngày 31/7/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1466/QĐ-TTg, phê duyệt “Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường”. Kế hoạch được kỳ vọng tạo bước ngoặt lớn cho lĩnh vực trồng trọt, khi xác định công nghiệp sinh học có vai trò nền tảng quan trọng, dẫn dắt đổi mới mô hình tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường trên cơ sở khoa học, công nghệ. Trong đó, nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược được ưu tiên nghiên cứu, phát triển, như: Chế phẩm sinh học thế hệ mới; phân bón hữu cơ vi sinh; thuốc sinh học; chế phẩm bảo quản nông sản...
Song, nhìn toàn cục, công cuộc này vẫn cần sự vào cuộc quyết liệt của nhiều cơ quan, đơn vị cũng như sự ủng hộ, hợp tác của người nông dân, nhằm kiểm soát chuỗi giá trị nông sản an toàn, bền vững ngay từ đầu vào - một trong những khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng nông sản ■