Dư địa tăng trưởng xuất khẩu đã khai mở
Việt Nam đã đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030. Đây là một quyết tâm chính trị rất cao, và các FTA thế hệ mới được xem là một trong những động lực quan trọng giúp Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu này. Và theo ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công thương, dư địa để Việt Nam mở rộng xuất khẩu và đa dạng hóa thị trường thông qua các FTA thế hệ mới vẫn còn rất lớn.
Thực tế, hiện nay có ba hiệp định tiêu biểu gồm: FTA Việt Nam-Liên minh châu Âu/ EU (EVFTA), FTA Việt Nam- Vương quốc Anh (UKVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Những thị trường này Việt Nam đã và đang khai thác khá hiệu quả thông qua các FTA song phương và đa phương trước đây. Tuy nhiên, có một số thị trường mà Việt Nam chỉ mới bắt đầu thông qua các FTA thế hệ mới như: EU, Canada, Mexico hay Vương quốc Anh, kết quả còn rất khiêm tốn. Mặc dù các FTA thế hệ mới đã giúp nhiều mặt hàng của Việt Nam được hưởng mức thuế nhập khẩu ưu đãi, gần như 0% sau một lộ trình nhất định, nhưng thị phần tại các thị trường này vẫn còn rất nhỏ. Cụ thể, EU có tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 2.000 tỷ USD/năm, trong khi xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này mới đạt hơn 50 tỷ USD, tương đương thị phần chỉ hơn 2%. Tương tự, Canada nhập khẩu khoảng 700 tỷ USD/ năm, nhưng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam mới đạt hơn 7 tỷ USD, tức gần 1%...
Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu có nhiều biến động, bên cạnh những thách thức thì cơ hội cho Việt Nam cũng gia tăng, khi nhiều đối tác tích cực tìm kiếm các thị trường và đối tác mới. Ông Ngô Chung Khanh đánh giá: Thực tế không ít doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa tận dụng tốt các cam kết FTA. Và “điểm nghẽn lớn nhất” chính là khâu thực thi từ quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật tới năng lực đáp ứng của doanh nghiệp Việt Nam. Điển hình là các ngành dệt may, da giày hay Nhiều doanh nghiệp của chúng ta vẫn chưa tận dụng tốt các cam kết FTA do hàm lượng giá trị gia tăng tại Việt Nam còn khiêm tốn và phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu, linh kiện. tăng tại Việt Nam còn khiêm tốn, do phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu và linh kiện từ nước ngoài. Đây cũng là lý do khiến tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các FTA dù đã tăng theo thời gian nhưng chưa đạt kỳ vọng, hiện mới đạt khoảng hơn 35%.
Theo ông Ngô Chung Khanh, Thủ tướng Chính phủ đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu đa dạng hóa thị trường, mở rộng các hình thức tiếp cận thị trường ưu đãi. Đây là cách tiếp cận phù hợp trong bối cảnh hiện nay, vì có thể đàm phán với nhiều đối tác và tạo ra hiệu quả sớm cho mục tiêu khai mở dư địa tăng trưởng xuất khẩu.
Nguồn lực quốc tế chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đất nước có đủ năng lực nội sinh để tiếp nhận, chuyển hóa và biến các cơ hội đó thành động lực phát triển nhanh, bền vững hơn”.
Nguyên Thứ trưởng Ngoại giao PHẠM QUANG VINH
Kết hợp nguồn lực quốc tế với sức mạnh nội sinh
Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng diễn ra vào trung tuần tháng 6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đề cập một nội dung rất đáng chú ý. Đó là “không một quốc gia nào có thể phát triển nhanh chóng và bền vững nếu không tham gia hội nhập quốc tế và hợp tác quốc tế".
Chia sẻ về vấn đề này, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Vinh cho rằng: Hội nhập và hợp tác quốc tế là một bộ phận không thể tách rời trong tiến trình phát triển đất nước. Việc thực hiện ký kết các FTA thế hệ mới mở cánh cửa thị trường lớn, nhưng yếu tố quyết định chuyện Việt Nam bước vào bằng vị thế nào vẫn luôn là nội lực. Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề này cần được nhìn nhận cụ thể hơn: Tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài phải đi cùng với phát huy năng lực nội sinh của đất nước.
Để làm được điều đó, theo ông Phạm Quang Vinh, trước hết, Việt Nam cần có chính sách đối ngoại đủ chủ động, linh hoạt và hiệu quả để tranh thủ tốt các nguồn lực quốc tế, nhất là những nguồn lực có tiêu chí cao hơn, bền vững hơn và phù hợp hơn với yêu cầu phát triển mới. Việt Nam phải sắp xếp, củng cố lại năng lực bên trong của nền kinh tế, từ thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực đến năng lực doanh nghiệp, để tạo sức hấp dẫn thực chất đối với các dòng vốn, công nghệ và tri thức mới. “Vì vậy, câu chuyện then chốt ở đây là sự kết hợp giữa bên trong và bên ngoài, ông Phạm Quang Vinh nhấn mạnh.
Thực tế, Việt Nam đã tạo nên mạng lưới liên kết kinh tế rộng với nhiều đối tác lớn nhờ những lợi thế chiến lược mà các FTA thế hệ mới mang lại, tạo ra một không gian hợp tác kinh tế rộng hơn trong một thế giới đang bị phân mảnh mạnh hơn. Tuy nhiên, khi cạnh tranh nước lớn gia tăng, chủ nghĩa bảo hộ quay trở lại và chuỗi cung ứng tiếp tục dịch chuyển, một nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định, có luật chơi rõ ràng và có cam kết dài hạn với các đối tác lớn. Nói cách khác, FTA thế hệ mới tạo ra không gian chiến lược để Việt Nam kết nối sâu hơn với thế giới và tạo giá trị cao hơn cho đất nước.
Nâng cấp năng lực vì lợi ích phát triển lâu dài của đất nước
Hiện nay, các tiêu chuẩn xanh, lao động, xuất xứ hàng hóa, sở hữu trí tuệ hay minh bạch hóa chuỗi cung ứng không còn là câu chuyện riêng của một hiệp định thương mại, mà đã và đang trở thành chuẩn mực vận hành của kinh tế thế giới. Dù Việt Nam đã đi qua một quá trình hội nhập khá dài và đã từng bước thực hiện nhiều cam kết như ứng phó biến đổi khí hậu, giảm phát thải, bảo đảm xuất xứ hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, lao động và môi trường..., song vấn đề hiện nay là phải chủ động hơn trong cách tiếp cận, bởi dường như chúng ta mới dừng ở mức đáp ứng.
Ông Phạm Quang Vinh cho rằng: Muốn đi xa hơn, Việt Nam cần coi đó là yêu cầu tự thân của nền kinh tế và là lợi ích phát triển lâu dài của đất nước. Điều này hàm nghĩa: Muốn tham gia phân khúc giá trị cao hơn, nền kinh tế Việt Nam phải minh bạch hơn, xanh hơn, số hóa mạnh hơn và có năng lực quản trị tốt hơn. Khi những chuẩn mực cao trở thành năng lực bên trong, Việt Nam sẽ có vị thế tốt hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. “Điều quan trọng hơn là Việt Nam phải biến các FTA này thành một không gian chiến lược để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng chất lượng sản phẩm, nâng hàm lượng công nghệ và từng bước xây dựng thương hiệu hàng Việt trên thị trường quốc tế”, ông Vinh nhấn mạnh.
Hơn thế, “muốn đi vào các phân khúc cao hơn, Việt Nam phải trở thành mắt xích thực chất trong hệ sinh thái các doanh nghiệp toàn cầu, nhất là các tập đoàn xuyên quốc gia”, như nhận xét của ông Ngô Chung Khanh.
Tinh thần này cũng rất đúng với Nghị quyết số 10 NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đó, việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong giai đoạn mới phải hướng tới chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và khả năng lan tỏa với khu vực kinh tế trong nước. FDI cần trở thành kênh chuyển giao hiệu quả và tạo liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Nếu FTA mở ra cánh cửa thị trường, thì FDI sẽ tạo nên dòng chảy kết nối, còn năng lực nội sinh của doanh nghiệp trong nước vẫn phải là yếu tố quyết định chuyện Việt Nam đứng ở tầng nào trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khi ba yếu tố đó gặp nhau, hàng Việt mới có thể đi từ lợi thế thương mại sang lợi thế công nghệ, từ tham gia thị trường sang xây dựng vị thế quốc gia.