Tiếng vọng từ lịch sử
Chính thức ra đời vào Tháng Tám mùa thu lịch sử 1945 cùng đất nước tái sinh, ngành Đối ngoại - Ngoại giao Việt Nam được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trực tiếp dẫn dắt, huấn luyện, đặt nền móng… trên cương vị là Bộ trưởng Ngoại giao kiêm nhiệm đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng, từ rất lâu trước đó, Người đã luôn đề cập một mệnh đề tối quan trọng đối với Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Từ khi còn mang tên Nguyễn Ái Quốc, xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước đi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, Người đã sớm nhận thức được giá trị sâu sắc của tư tưởng đoàn kết quốc tế.
Người khẳng định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.1, tr.329). Người không chỉ đưa ra định hướng, mà thông qua những hoạt động phong phú, sinh động, đã gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Do đó, kể từ khi thành lập, Đảng ta đã luôn nhận thức sâu sắc và thực hiện đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để thực hiện các mục tiêu cách mạng. Điều này được thể hiện thống nhất trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng tháng 2/1930 hay Luận cương chánh trị tháng 10/1930 và các văn kiện khác thời kỳ đấu tranh chuẩn bị giành chính quyền: Đảng chủ trương thực hiện đoàn kết quốc tế với tất cả các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới để có điều kiện “xây dựng nền thái bình muôn thuở”.
Sau Cách mạng Tháng Tám, đến tháng 9/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa nhấn mạnh đường lối đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” (Sđd, t.5, tr.256). Nhờ quan điểm xuyên suốt kết tinh truyền thống văn hóa - lịch sử dân tộc với ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin ấy, 81 năm qua, ngành Đối ngoại - Ngoại giao Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng, in đậm dấu ấn trong từng chặng đường lịch sử, từ giai đoạn giành và giữ vững nền độc lập, đến hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân, đế quốc, cho tới hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc kỷ nguyên hiện đại - nhất là kể từ thời điểm “phá vây”, tạo “đột phá khẩu” cho chặng đường 40 năm Đổi mới sau Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) - nhằm bảo đảm cao nhất, trên hết và trước hết lợi ích quốc gia - dân tộc, “luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ” - như lời dạy của Bác Hồ kính yêu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 3 năm 1964.
Trong lịch sử dân tộc, đối nội và đối ngoại luôn song hành, bổ trợ cho nhau, “đối ngoại là sự vươn xa của đối nội”. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn viết trong Binh thư yếu lược: “Hòa ở trong nước thì ít phải dùng binh, hòa ở ngoài biên thì không sợ báo động”. Cha ông ta đã biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với khai thác những yếu tố bên ngoài, vừa kiên cường bảo vệ nền độc lập, tự chủ, vừa mềm dẻo, hòa hiếu trong bang giao".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước TÔ LÂM
Thời đại mới, nhiệm vụ mới, tư duy mới, động lực mới
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: “Thế giới đang chứng kiến những chuyển biến lớn mang tính bước ngoặt, chưa từng có kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây... Những quốc gia không bắt kịp tình hình, không có đối sách phù hợp, tách biệt, tự cô lập khỏi môi trường hợp tác quốc tế thì sẽ tụt hậu, không phát triển. Những quốc gia chủ động về chiến lược, dự báo, ứng phó và hợp tác sẽ có lợi thế và khả năng vươn lên. Sự phát triển của Việt Nam không thể tách rời sự phát triển của khu vực và thế giới. Vì vậy, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nội lực với ngoại lực là điều kiện tiên quyết để chúng ta “sánh vai với các cường quốc năm châu” trên con đường phát triển”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng tái khẳng định: “Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt cách mạng Việt Nam trong mối liên hệ với khu vực và thế giới, kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra “sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là điều cần yếu cho một quốc gia độc lập”. Nhờ đường lối đối ngoại đúng đắn, chúng ta đã tranh thủ được sự giúp đỡ quốc tế to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và phát triển đất nước”.
Chính vì vậy, khi bối cảnh trong nước và quốc tế hiện tại đặt ra những yêu cầu mới về giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia dân tộc…, Nghị quyết số 06- NQ/TW tập trung cụ thể hóa những quan điểm của đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng với năm luận điểm lớn mang tính “kim chỉ nam” định hình tư tưởng:
Thứ nhất: Lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Đối ngoại trong kỷ nguyên mới phải ở vị trí tuyến đầu và trung tâm, góp phần nhận diện và hóa giải nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát.
Thứ hai: Trong giai đoạn mới, đối ngoại không chỉ là công cụ để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế, là cách thức để lan tỏa giá trị văn minh Việt Nam, tạo sự tôn trọng, tin cậy và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng quốc tế.
Thứ ba: Đối ngoại phải dựa trên tinh thần “tự chủ chiến lược” và “tự cường”. Tự chủ chiến lược thể hiện năng lực làm chủ vận mệnh quốc gia, định vị đúng vị thế, lựa chọn đúng hướng đi và chủ động ứng phó linh hoạt; tự cường là phát huy nội lực, tự tin dân tộc để làm cho quốc gia mạnh lên.
Thứ tư: Đối ngoại vươn lên đảm nhiệm một sứ mệnh mới, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Tham gia sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại.
Thứ năm: Đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trên nền tảng phối hợp, bổ sung cho nhau của 3 trụ cột: Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân; sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại; giữa ngoại giao nghị viện với ngoại giao Nhà nước, với đối ngoại Nhân dân; giữa các ban, bộ, ngành Trung ương; với sự tham gia sâu rộng của các địa phương, doanh nghiệp và người dân; sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các công cụ chính trị, kinh tế, công nghệ, văn hóa... để bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; phát huy cao nhất, tối ưu nhất sức mạnh tổng hợp của đất nước.
Một cách ngắn gọn, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, vẫn xuất phát từ mệnh đề “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” nhằm bảo vệ lợi ích tối thượng của quốc gia - dân tộc, ngành Đối ngoại - Ngoại giao Việt Nam phải nỗ lực chuyển từ trạng thái ngoại giao bảo vệ không gian phát triển sang ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển quốc gia; từ hội nhập thị trường sang kiến tạo thị trường; từ tham gia luật chơi sang góp phần định hình luật chơi và từ lớn mạnh riêng lẻ sang cùng cùng cộng đồng quốc tế (như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á-ASEAN) lớn mạnh, để không chỉ đứng vững giữa cạnh tranh chiến lược mà còn không ngừng vươn lên, làm tròn di nguyện thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.