Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.
Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Những gợi mở và thử nghiệm

Một làn điệu dân ca, hình thức diễn xướng, bộ môn nghệ thuật sân khấu truyền thống... được ra đời trong bối cảnh xã hội đã rất xa lạ với thế hệ học sinh, sinh viên ngày nay. Để các em hát được đúng lời, luyến láy đúng điệu đã không đơn giản. Để các em có thể cảm nhận, hiểu hoàn cảnh xã hội và tâm hồn, lý lẽ của người xưa khi sáng tác nên khúc hát ấy mà thấm nhuần nó hơn, có lẽ càng khó khăn đối với một giáo viên dạy chuyên môn âm nhạc. Chưa kể hiện nay, người trẻ có vô số lựa chọn giải trí với các loại hình nghệ thuật gần gũi với họ hơn sau khi rời lớp học. Việc học “gạo” một khúc hát dân ca trên lớp trong giới hạn thời lượng sẽ khó mà giúp nuôi dưỡng cảm xúc của học sinh dành cho chính khúc hát ấy, cũng như rộng hơn là dành cho các loại hình nghệ thuật sân khấu, diễn xướng âm nhạc truyền thống. Thiếu cảm xúc với nghệ thuật, kiến thức được dạy sẽ khó lưu lại.

Giữa thực tế này, nhiều nhà giáo đã chủ động đề xuất các nghiên cứu, thể nghiệm ban đầu của phương pháp liên môn, liên ngành trong đào tạo nghệ thuật, nhất là những bài học, học phần liên quan nghệ thuật truyền thống, bao gồm cả âm nhạc, mỹ thuật.

Không gian nguyên thủy của hát nhà tơ-hát, múa cửa đình ở xã Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh (được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2015) chỉ diễn ra tại các đình làng trong ngày hội đầu xuân, mang đậm yếu tố tâm linh. Chính vì vậy, để có thể giúp học sinh ngày nay cảm nhận và hiểu được, dẫu chỉ một cách khái lược nhất, về giá trị của loại hình diễn xướng này, chỉ với chuyên môn dạy hát, dạy múa thông thường sẽ là không đủ. Theo hai giảng viên Trần Vũ Lâm và Đặng Thị Thu Hiền, Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Hạ Long, để khắc phục sự đơn điệu trong dạy học nghệ thuật đơn ngành, thúc đẩy năng lực sáng tạo và bồi đắp ý thức bảo tồn di sản văn hóa cho thế hệ trẻ, có thể áp dụng hướng tiếp cận liên ngành trong việc đưa hát nhà tơ-hát, múa cửa đình vào không gian trường học phổ thông. Từ nghiên cứu lý thuyết kết hợp điền dã thực địa, các tác giả đề xuất hệ thống ba giải pháp cốt lõi, bao gồm: Thiết kế tiến trình bài học tích hợp liên môn (Âm nhạc, Ngữ văn, Lịch sử...); áp dụng mô hình học tập qua trải nghiệm thực tế tại di tích và xây dựng mô hình “Nghệ nhân học đường” kết hợp câu lạc bộ di sản học đường.

Được biết, hiện nay, tại xã Đầm Hà, có hai câu lạc bộ Hát nhà tơ-hát, múa cửa đình; một của người lớn và một dành cho thiếu niên, nhi đồng của xã trên cơ sở Câu lạc bộ Hát nhà tơ trong trường học của xã, thành lập trong tháng 3/2024 với 50 thành viên ban đầu.

Không phải là không có những thách thức từ chính thực tiễn về năng lực liên môn của giáo viên, quỹ thời gian theo thời khóa biểu và mức độ thu hút sự quan tâm của học sinh dành cho nghệ thuật truyền thống. Nhưng hướng đề xuất phương thức giáo dục mang tính liên ngành này có ý nghĩa gợi mở, khuyến khích tinh thần đổi mới việc dạy và học nghệ thuật trong nhà trường, nhằm từng bước xây dựng năng lực cảm thụ và tình yêu lâu bền dành cho nghệ thuật truyền thống dân tộc trong thế hệ trẻ.

Trong giáo dục nghệ thuật ở bậc đại học hiện nay, bao gồm cả ngành sư phạm nghệ thuật-nơi đào tạo giáo viên các bộ môn nghệ thuật tương lai, việc kết nối liên ngành và tích hợp, ứng dụng công nghệ số, chuyển hướng đào tạo theo dự án thay vì mô hình môn học đơn lẻ cũng đã và đang được nhiều giảng viên lựa chọn, thử nghiệm và cùng sinh viên hoàn thiện dần về phương pháp luận.

Thạc sĩ Bùi Thị Nam, giảng viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương nhận định: Việc đổi mới giáo dục nghệ thuật theo hướng tích hợp và liên ngành tác động vào quá trình hình thành, phát triển ý tưởng của người học, nhấn mạnh vai trò của phản biện giữa giáo viên/giảng viên và người học cũng như khả năng phản tư của chính người học; từ đó, thúc đẩy quá trình nhận hiểu và sáng tạo nghệ thuật. Sự đổi mới này đồng thời tạo nền tảng để sinh viên ngành Sư phạm nghệ thuật tiếp tục đổi mới phương thức học tập.

Nâng cao năng lực công nghệ, kỹ năng chuyển đổi số cho giáo viên

Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đặt ra những yêu cầu chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực toàn diện cho học sinh. Thí dụ như với môn Âm nhạc, yêu cầu cốt lõi là các năng lực thể hiện, cảm thụ và hiểu biết âm nhạc, kể cả ứng dụng và sáng tạo âm nhạc; ở cấp trung học phổ thông, một số phân môn lựa chọn định hướng nghề nghiệp, như Dàn dựng âm nhạc và Công nghệ âm nhạc, lần đầu được đưa vào giảng dạy chính thức.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Điệp, giảng viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, thực tế nói trên đòi hỏi sinh viên chuyên ngành Thanh nhạc Sư phạm, những giáo viên âm nhạc tương lai, không chỉ sở hữu kỹ thuật ca hát điêu luyện mà phải có năng lực biên soạn, dàn dựng và ứng dụng công nghệ số như một công cụ hỗ trợ dạy học và kích thích sáng tạo học đường. Vì vậy, môi trường đại học cũng cần có giải pháp đào tạo đồng bộ từ đổi mới quy trình dạy học, xây dựng phòng thực hành tinh gọn, đến tích hợp nội dung đạo đức số và bản quyền âm nhạc, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực sư phạm âm nhạc thời kỳ chuyển đổi số.

Chia sẻ với quan điểm của Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Điệp, được nêu tại Hội thảo quốc gia về Đổi mới giáo dục nghệ thuật ở Việt Nam, do Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức, tháng 8/2026, Đại tá, nhạc sĩ Nguyễn Mai Kiên, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội đồng thời đề xuất mô hình hoạt động học tập tích hợp trí tuệ nhân tạo nhằm phát triển năng lực sáng tạo âm nhạc cho sinh viên sư phạm âm nhạc. Theo ông Kiên, mô hình này giúp sinh viên khai thác trí tuệ nhân tạo như một công cụ hỗ trợ sáng tạo, phát triển năng lực nghề nghiệp và chuyển hóa kết quả học tập thành hoạt động dạy học. Mô hình góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên âm nhạc trong bối cảnh chuyển đổi số.

Đặc biệt mới đây, một nhóm sinh viên khi đang theo học năm thứ ba, ngành Sư phạm âm nhạc tại Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, đã thử nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo xây dựng học liệu điện tử nhằm cá nhân hóa việc học môn Âm nhạc của học sinh lớp 6 tại một trường phổ thông ở Hà Nội. Kết quả ban đầu cho thấy, học sinh tiến bộ rõ rệt về kỹ năng âm nhạc và tăng cường hứng thú học tập một cách đáng kể. Điều đáng vui mừng là các giáo viên tương lai này đã chủ động khắc phục hạn chế về điều kiện hạ tầng công nghệ bằng cách phối hợp đồng bộ nhiều công cụ trí tuệ nhân tạo phù hợp để thiết kế học liệu. Việc đề cao yếu tố cá nhân hóa còn là chỉ dấu cho thấy nhận thức sâu sắc của các bạn sinh viên về phương pháp giáo dục nghệ thuật hiện đại, chú trọng vào năng lực cảm thụ nghệ thuật của từng học sinh thay vì truyền dạy kiến thức một cách đại trà, khuôn mẫu.

Để thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ thông năm học 2026-2027, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn số 5208/BGDĐT-GDPT nêu rõ yêu cầu tăng cường giáo dục nghệ thuật: Tổ chức đa dạng hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài giờ học thông qua môn học, hoạt động giáo dục, câu lạc bộ, sân chơi và trải nghiệm phù hợp với điều kiện thực tế; khuyến khích học sinh sáng tạo, biểu diễn, cảm thụ nghệ thuật; giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống, bản sắc dân tộc và địa phương; tiếp cận có chọn lọc nghệ thuật đương đại phù hợp với lứa tuổi.

Đây là tiền đề để các cơ sở giáo dục tiếp tục mạnh dạn khuyến khích, tạo điều kiện để giáo viên và học sinh đổi mới phương thức dạy và học nghệ thuật, từng bước kiến tạo một hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại, mở rộng học đường thành không gian văn hóa, thúc đẩy sự sáng tạo trong dạy và học các môn học khác.

Trong thực tế, nhiều giáo viên phổ thông đã chủ động ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào giảng dạy nghệ thuật, tạo sức hấp dẫn cho học sinh. Bên cạnh việc số hóa bài giảng với nhiều hình ảnh phong phú để trình chiếu trước học sinh, giáo viên còn chủ động thiết kế các không gian ảo 3D mô phỏng không gian văn hóa nơi sinh ra các làn điệu dân ca, diễn xướng dân gian hoặc mô phỏng các di tích mỹ thuật cổ để học sinh cảm nhận rõ nét hơn về ý nghĩa và giá trị của các nội dung nghệ thuật truyền thống.

Có thể bạn quan tâm

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.