Rào cản phát triển
Rau là nhóm thực phẩm thiết yếu, tác động trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Trong quá trình từ vườn/ruộng đến mâm cơm mỗi gia đình, rau xanh phải trải qua nhiều công đoạn: gieo trồng, chăm sóc, thu hái, sơ chế, bảo quản, tham gia thị trường để đến tay người tiêu dùng. Bất kể một khâu nào khi phạm vào “vùng cấm”, tức là không tuân thủ yếu tố bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm, đều đe dọa đến chất lượng bữa ăn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước có khoảng 1,15 triệu ha trồng rau xanh, nhưng diện tích được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP mới đạt hơn 8.000 ha, tức khoảng 0,6% tổng diện tích sản xuất. Đây là những con số “biết nói”, cho thấy cần mau chóng đổi mới phương thức, áp dụng các tiêu chuẩn trong sản xuất rau an toàn, đáp ứng nhu cầu của người dân về chất lượng, an toàn thực phẩm.
Ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhận xét: “Phần lớn người dân vẫn sản xuất theo nông hộ, mô hình hợp tác xã và cơ sở quy mô nhỏ, có khi chỉ vài trăm đến vài nghìn mét vuông đất canh tác. Trong khi đó, chi phí sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và duy trì hệ thống còn khá cao”.
Điều đáng nói, suốt những năm qua, rau sản xuất quy mô nhỏ, thiếu kiểm soát an toàn vẫn được bày bán tràn lan ở các chợ đầu mối, thậm chí trà trộn với rau an toàn, len lỏi vào siêu thị, trường học. Điều này cho thấy: Tính kỷ luật ở khâu đầu vào, gồm cả khâu sản xuất lẫn phân phối vẫn là rào cản lớn để phát triển nền nông nghiệp hiện đại, an toàn. Nhiều chuyên gia chỉ ra thêm, tình trạng sản xuất manh mún, đất đai phân tán, người dân không được hướng dẫn tốt về kỹ thuật cũng góp phần khiến việc kiểm soát chất lượng rau củ trở nên khó khăn. Ngay như thôn Kim Quy, xã Đại Xuyên (Thành phố Hà Nội), vốn là vùng sản xuất rau lâu đời với cả nghìn nông hộ tham gia, nhưng số hộ dồn điền đổi thửa, đầu tư công nghệ chỉ được một vài.
Nắm bắt được nhu cầu chuyển dịch từ ăn no sang ăn sạch của người dân, ông Nguyễn Văn Báo đã cùng một số nông hộ khác đầu tư trồng rau sạch tại cánh đồng quê hương, thuộc thôn Kim Quy chia sẻ: “Chúng tôi đã rất nỗ lực, nhưng vẫn phải đối diện khó khăn về vốn, thị trường tiêu thụ và đặc biệt rất khó cạnh tranh với nông hộ sản xuất tự phát vẫn đang bày bán ở các chợ đầu mối”.
Tiếp cận bằng những trụ cột chính
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng dự thảo tiêu chuẩn quốc gia “Quy trình sản xuất, sơ chế rau bảo đảm an toàn thực phẩm” và đang xin ý kiến các cơ quan chuyên môn. Dự thảo được xây dựng trên cơ sở kế thừa và cập nhật các quy định hiện hành của Việt Nam, đồng thời tham khảo có chọn lọc nhiều tiêu chuẩn trong nước và quốc tế như VietGAP, GlobalGAP, AseanGAP, TCVN ISO
22000:2018 cùng các quy định về truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm. Mục tiêu nhằm giúp cơ quan quản lý nâng cao hiệu quả kiểm soát, hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác xã giảm chi phí, đồng thời cung cấp cho người sản xuất các hướng dẫn thực hành cụ thể để sản xuất an toàn và minh bạch hơn.
Cùng với việc xây dựng Tiêu chuẩn quốc gia, nhiều chuyên gia, nhấn mạnh: Cơ quan chức năng cũng cần xây dựng chi tiết tiêu chuẩn phù hợp với nông hộ sản xuất nhỏ; kiểm soát từ đất, nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; tăng hơn nữa tính minh bạch và truy xuất nguồn gốc sản phẩm để từ đó từng bước chuyên nghiệp, hiện đại hóa ngành trồng trọt. Việc truy xuất nguồn gốc là yêu cầu tất yếu khi các thị trường trong nước và quốc tế ngày càng coi trọng chất lượng, trách nhiệm chuỗi cung ứng và an toàn thực phẩm.
Thủ đô Hà Nội đã quy hoạch, xây dựng các vùng trồng rau an toàn thuộc ngoại ô thành phố. Nhằm tiếp tục chuyên nghiệp hóa lĩnh vực sản xuất rau, ngày 27/11/2025, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành Kế hoạch số 320/KH-UBND, về phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030 trên địa bàn. Các địa phương như Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình... cũng đã xây dựng các chương trình nhằm phát triển các vùng sản xuất rau an toàn chuyên canh, tập trung, thúc đẩy hình thành các liên kết chuỗi giá trị bền vững; áp dụng công nghệ giám sát quá trình sản xuất; khuyến khích sử dụng phân bón hữu cơ...
Để bảo đảm hiệu quả, các địa phương cần tham khảo cách làm của Lâm Đồng - địa phương có quy mô nông nghiệp lớn nhất nước với hơn 880 nghìn ha đất canh tác (khoảng 101 nghìn ha rau), trong đó nhiều diện tích ứng dụng công nghệ cao, canh tác theo hướng an toàn. Những năm qua, Lâm Đồng có chính sách ưu đãi khuyến khích thu hút nguồn lực, tích tụ ruộng đất đai, đầu tư khoa học-công nghệ. Ngoài ra, còn thúc đẩy liên kết, không chỉ giúp người nông dân thoát khỏi tình trạng sản xuất manh mún, mà còn mở ra hướng phát triển bền vững, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ.
Là người nhiều năm sản xuất rau an toàn, anh Trần Xuân Đăng, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp công nghệ cao xã Trí Yên (thôn Đức La, phường Tân An, tỉnh Bắc Ninh),
kiến nghị: “Một giải pháp các cơ quan chức năng cần quan tâm là hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tích tụ ruộng đất để sản xuất. Nhiều người trẻ có khát vọng nhưng không thể làm được nếu thiếu chính sách hỗ trợ”.
Phần lớn đất nông nghiệp đang nằm trong tay nông dân, nhưng họ không có khả năng quy hoạch vùng và không đủ nguồn lực đầu tư trồng trọt quy mô lớn. Do đó, Nhà nước và các bộ, ngành cần có cơ chế điều chỉnh chính sách đất đai, giúp địa phương tích tụ ruộng đất, tạo tiền đề cho doanh nghiệp đưa ứng dụng khoa học vào sản xuất. “Các địa phương cần phương pháp tiếp cận đúng đắn: lấy khoa học-công nghệ là nền tảng, doanh nghiệp làm nòng cốt, người nông dân là trung tâm, từ đó thúc đẩy quá trình chuyển đổi sản xuất truyền thống sang hiện đại một cách mạnh mẽ”, ông Nguyễn Xuân Điệp (Viện Nghiên cứu Rau quả), chia sẻ ■
Truy xuất nguồn gốc không phải chỉ là tạo mã QR code chứa thông tin, mà giúp cơ quan chuyên ngành quản lý tốt hơn sản phẩm, hỗ trợ cho người tiêu dùng được dùng rau an toàn; tăng độ tin cậy và khả năng kiểm soát chéo chuỗi cung ứng. Nếu không làm được điều này, chúng ta còn phải sống chung với sự nhập nhèm giữa thực phẩm an toàn - không an toàn".
Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy