Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.
Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Quyền và lợi ích hợp pháp có thể bị ảnh hưởng

Tại Điều 28 Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) về điều kiện thực hiện các quyền của người sử dụng đất không còn quy định tương ứng với khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai năm 2024 về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Theo đó, dự thảo bãi bỏ quy định về việc thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất.

Đây là vấn đề cần xem xét kỹ trên nhiều phương diện. Thứ nhất, quy định về công chứng, chứng thực đối với giao dịch về quyền sử dụng đất đã được ghi nhận và duy trì qua các Luật Đất đai năm 2003, 2013 và 2024. Thứ hai, văn bản công chứng là thành phần hồ sơ của nhiều thủ tục về đất đai, nhưng công chứng không phải là một thủ tục hành chính đơn thuần, mà là hoạt động bổ trợ tư pháp nhằm kiểm tra tính hợp pháp của giao dịch, đánh giá năng lực và ý chí tự nguyện của các bên, phòng ngừa giao dịch giả tạo, giao dịch bị lừa dối, cưỡng ép hoặc những giao dịch vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Điều này được quy định rõ tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong khi đó, cơ sở dữ liệu đất đai có chức năng ghi nhận, công khai hóa kết quả đăng ký đất đai. Các quy định tại khoản 1 Điều 28 dự thảo đều là những điều kiện về tình trạng pháp lý đã được xác lập từ trước của thửa đất và quyền sử dụng đất. Những yếu tố phát sinh ngay tại thời điểm giao kết, như sự tự nguyện hay dấu hiệu bị lừa dối, ép buộc, giả mạo chủ thể, không thuộc phạm vi phản ánh của các điều kiện đó và cũng không thể được phản ánh chỉ bằng cơ sở dữ liệu đất đai, dân cư, dù được hoàn thiện và liên thông đến đâu. Những yếu tố này vẫn cần được con người trực tiếp kiểm tra và chịu trách nhiệm. Do đó, cơ sở dữ liệu và công chứng là hai lớp bảo đảm có chức năng khác nhau, bổ trợ cho nhau chứ không thể thay thế cho nhau.

Theo số liệu tổng kết thi hành Luật Công chứng năm 2014, số vụ việc bị khởi kiện ra Tòa án chỉ chiếm khoảng 0,01% số văn bản công chứng tại 41 địa phương. Tỷ lệ rất thấp này cho thấy vai trò thực chất của công chứng trong bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch. Do vậy, nếu bãi bỏ yêu cầu công chứng một cách đồng loạt, người dân sẽ mất đi một lớp bảo vệ pháp lý; rủi ro có thể chuyển về phía người dân và Nhà nước, tranh chấp, kiện tụng có nguy cơ gia tăng, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân có thể bị ảnh hưởng.

Vẫn cần cơ chế kiểm soát rủi ro

Hiện nay, mạng lưới tổ chức hành nghề công chứng đã phát triển mạnh với gần 1.500 phòng công chứng và văn phòng công chứng trên toàn quốc. Thời gian người dân thực hiện thủ tục tại tổ chức hành nghề công chứng khá khiêm tốn so tổng thời gian của cả quy trình đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngay cả đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi, nông thôn hoặc các xã chưa có tổ chức hành nghề công chứng, Ủy ban nhân dân cấp xã vẫn có thẩm quyền thực hiện chứng thực giao dịch.

Vì vậy, có thể khẳng định: Công chứng không phải là điểm “nghẽn” của quy trình đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc loại bỏ công chứng bắt buộc không giải quyết được gốc rễ của tình trạng chậm trễ, kéo dài trong thực hiện thủ tục hành chính về đất đai, nhưng lại có thể làm mất đi một khâu kiểm soát an toàn pháp lý quan trọng đối với giao dịch quyền sử dụng đất.

Ngược lại, về việc duy trì công chứng cũng phù hợp định hướng xây dựng hệ thống dữ liệu và quản trị đất đai hiện đại. Nghị quyết số 21-NQ/TW đặt ra yêu cầu xây dựng, vận hành hệ thống thông tin quốc gia về đất đai theo hướng tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiện đại, đa mục tiêu; bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành về quy hoạch, thuế, công chứng, ngân hàng, bất động sản; kết nối dữ liệu đất đai với quy hoạch, công chứng, thuế, ngân hàng, đăng ký giao dịch bảo đảm và kinh doanh bất động sản.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau. Dữ liệu đất đai cho biết quyền đối với tài sản được đăng ký như thế nào; dữ liệu công chứng phản ánh lịch sử giao dịch của tài sản, làm rõ chủ thể xác lập, thời gian xác lập và tổ chức đã kiểm tra, đối chiếu. Vì vậy, dữ liệu đất đai không thể thay thế quy trình kiểm soát ý chí và tính hợp pháp của giao dịch do hoạt động công chứng thực hiện. Công chứng là một mắt xích trong quá trình liên thông dữ liệu số, một thành tố của hệ sinh thái dữ liệu và quản trị đất đai minh bạch và thuận tiện hơn cho người dân.

Trong điều kiện hiện nay, thay vì bãi bỏ công chứng bắt buộc đối với giao dịch đất đai một cách đồng loạt, chúng ta chỉ nên xem xét áp dụng như một cơ chế linh hoạt đối với những giao dịch có mức độ rủi ro thấp, cơ sở dữ liệu đầy đủ và chủ thể dễ xác minh. Với các nhóm giao dịch quan trọng như chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất… vẫn cần “bắt buộc công chứng” để phòng ngừa rủi ro và tranh chấp có thể phát sinh.

Cải cách thủ tục là cần thiết, nhưng phải đi cùng với cơ chế kiểm soát rủi ro. Chuyển đổi số cần làm cho quá trình giao dịch an toàn, minh bạch và thuận tiện hơn cho người dân, chứ không nên làm mất đi những cơ chế đang thực hiện chức năng phòng ngừa rủi ro pháp lý.

Việc giữ lại hay loại bỏ quy định bắt buộc công chứng đối với các giao dịch đất đai là một chính sách lớn, có ảnh hưởng sâu rộng đến trật tự, an toàn xã hội. Vấn đề này cần được xem xét trên cơ sở đánh giá đầy đủ tác động đối với hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và kiểm soát rủi ro pháp lý.

Có thể bạn quan tâm

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Không gian trải nghiệm sáng tạo tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông tỉnh Lai Châu khuyến khích học sinh làm quen, thực hành kỹ thuật tạo hình truyền thống của các dân tộc tại địa phương. (Trong ảnh: Các em học sinh trải nghiệm thực hành kỹ thuật vẽ sáp ong của đồng bào Mông hoa). Ảnh: Vũ Công

Hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Một trong những mục tiêu đến năm 2030 mà Nghị quyết đề ra là 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.

Học sinh Trường THCS Lê Ngọc Hân tham gia triển lãm tranh và giao lưu với các bác, các chú thương binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh ở tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Lê Ngọc

Xây dựng môi trường khuyến khích sự sáng tạo

Giáo dục nghệ thuật ở bậc phổ thông hiện nay là con đường quan trọng để phát triển cảm xúc, khả năng quan sát, tư duy sáng tạo và phát triển nhân cách của học sinh. Trong đó, môn Mĩ thuật góp phần giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp, biết biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình, biết sáng tạo và làm cho môi trường sống chung quanh trở nên đẹp hơn.

Cấu trúc mô hình SMART - MUSIC, một phương pháp giáo dục âm nhạc có thể phù hợp với học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đặc biệt

Việc ứng dụng công nghệ số trong dạy học âm nhạc cho học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt mở ra khả năng tăng cường tính trực quan, linh hoạt và cá nhân hóa quá trình học tập. Những đặc điểm khác biệt về khả năng chú ý, giao tiếp, ghi nhớ và tốc độ tiếp thu của học sinh tự kỷ hoặc khuyết tật trí tuệ đặt ra yêu cầu lựa chọn nội dung, phương pháp và học liệu phù hợp với từng cá nhân.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.